1. Khái quát về các nước Châu Mỹ

Các nước châu Mỹ nằm ở khu vực địa lý bao gồm lục địa Bắc Mỹ, Nam Mỹ và các nhóm đảo xung quanh. Địa hình bị chi phối bởi American Cordillera, một chuỗi dài các ngọn núi chạy dọc theo bờ biển phía tây. Phía đông của các nước châu Mỹ là các lưu vực sông lớn như sông Amazon, sông St. Lawrence River / lưu vực Great Lakes, Mississippi và La Plata.

Bắc Mỹ Chiếm phần phía bắc châu Mỹ, các nước Bắc Mỹ được bao quanh bởi Bắc Băng Dương ở phía Bắc và Đại Tây Dương ở phía Đông, với Thái Bình Dương ở phía Tây và phía Nam. Nó có một biên giới đường bộ với lục địa Nam Mỹ, chạy dọc theo ranh giới giữa Panama và Colombia. Ở Bắc Mỹ, có 23 quốc gia độc lập chính thức được công nhận. Lớn nhất trong số đó là Canada, tiếp theo cũng khá lớn là Hoa Kỳ, hai gã khổng lồ này cùng nhau chiếm hơn 79% diện tích toàn bộ lục địa Bắc Mỹ. Quốc gia nhỏ nhất trong phần này của thế giới là St. Kitts và Nevis, nó chỉ là hai hòn đảo nhỏ ở biển Caribbean.

Các nước ở phần phía Nam châu Mỹ hay lục địa Nam Mỹ gọi đơn giản là các nước Nam Mỹ, được bao quanh bởi biển Thái Bình Dương ở phía Tây, Đại Tây Dương ở phía Đông và phía Bắc, bởi biển Caribê ở phía Tây Bắc và được kết nối với Bắc Mỹ ở phía Đông Bắc. Một biên giới đường bộ giữa hai lục địa trải dài dọc theo ranh giới 2 nước Panama và Colombia. Có 12 quốc gia độc lập và 3 vùng lãnh thổ phụ thuộc ở Nam Mỹ. Quốc gia có diện tích lớn và đông dân cư nhất là Brazil, nó chiếm khoảng 50% tổng diện tích đất liền và hơn 52% dân số sống trên lãnh thổ Nam Mỹ. Quốc gia độc lập nhỏ nhất là Suriname, nó là quốc gia duy nhất trong khu vực này, nói tiếng Hà Lan như một ngôn ngữ chính thức.

2. Quyền con người

Tư tưởng về quyền con người (human rights, droits de l’home), cũng có thể gọi là “quyền của con người” - “rights of human person” hình thành cùng với sự xuất hiện của những nền văn minh cổ đại, quyền con người xuất phát từ các quyền thiêng liêng, tự nhiên, vốn có của con người, không do chủ thể nào ban phát. Quyền con người là khái niệm rộng hơn quyền công dân. Ví dụ, về tính chất, quyền con người không bị bó hẹp trong mối quan hệ giữa cá nhân với nhà nước như quyền công dân, mà thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với toàn thể cộng đồng nhân loại, về phạm vi áp dụng, do không bị giới hạn bởi chế định quốc tịch, nên chủ thể của quyền con người là tất cả các thành viên của “gia đình nhân loại”, bất kể vị thế, hoàn cảnh, quốc tịch,... Nói cách khác, quyền con người được áp dụng một cách bình đẳng với tất cả mọi người thuộc mọi dân tộc đang sinh sống trên phạm vi toàn cầu, không phụ thuộc vào biên giới quốc gia, tư cách cá nhân hay môi trường sống của chủ thể quyền.

3. Tổ chức các nước châu Mỹ

Các quốc gia châu Mỹ đã thiết lập một tổ chức khu vực Tổ chức các nước châu Mỹ (Organization of American States (OAS). Tổ chức này có các một vài cơ quan chuyên môn về bảo vệ nhân quyền. Hiến chương của OAS tập trung vào một một số lĩnh vực thúc đẩy nhân quyền như: dân chủ, quyền kinh tế, quyền học tập và quyền bình đẳng. Các quốc gia cũng đồng thời kí vào Tuyên ngôn châu Mỹ về quyền và nghĩa vụ của con người (American Declaration of the Rights and Duties of Man) tại Bogota, Colombia 4/1948. Tuyên ngôn này là công ước quốc tế đầu tiên về nhân quyền.

Có bảy loại ủy ban chính và các cơ quan thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền châu Mỹ nằm trong danh sách này. Bảy loại ủy ban và hội đồng ấy là: ủy ban châu Mỹ chống khủng bố, ủy ban Tư pháp châu Mỹ, ủy ban Đặc trách nhân quyền, Tòa án Nhân quyền châu Mỹ, Ủy ban Kiểm soát ma túy, ủy ban Viễn thông châu Mỹ và Ủy ban Hải cảng.

Năm 1969, Công ước nhân quyền châu Mỹ được thông qua và bắt đầu có hiệu lực năm 1978. Công ước cũng tạo ra Toà án Nhân quyền châu Mỹ và xác định chức năng thủ tục của cả ủy ban và Tòa án.

Nghị định thư San Salvador bổ sung cho Công ước nhân quyền trong các lĩnh vực quyền kinh tế, xã hội, văn hoá (1988). Nghị định thư bổ sung này được thông qua năm 1988 và bắt đầu có hiệu lực 16/11/1999. Nghị định thư tập trung vào quy định quốc gia nhằm thúc đẩy các quyền kinh tế, xã hội văn hóa, liên quan đến luật lao động, các vấn đề y tế, quyền học tập, các quyền liên quan đến gia đình, quyền trẻ em, người già và người có hoàn cảnh khó khăn. Nghị định thư nói rằng các quốc gia có thể thực hiện những quy định đó thông qua đạo luật, các biện pháp thi hành bảo vệ và chống lại mọi hình thức phân biệt.

Công ước châu Mỹ về ngăn chặn, trừng phạt và chấm dứt bạo lực đối với phụ nữ (1994).

Như vậy cùng với ủy ban Đặc trách nhân quyền châu Mỹ và Tòa án Nhân quyền châu Mỹ thì OAS còn có một số’ các cơ quan khác liên quan đến nhân quyền như: ủy ban Phụ nữ châu Mỹ, Viện Trẻ em châu Mỹ, Đơn vị thúc đẩy dân chủ và ủy, ban Tư pháp châu Mỹ. Cơ quan nhân quyền của Tổ chức các nước châu Mỹ (Human Rights Bodies of the Organization of American States).

4. Ủy ban Đặc trách nhân quyền châu Mỹ (Inter-American Commission on Human Rights)

Ủy ban Đặc trách nhân quyển châu Mỹ là cơ quan đầu tiên mà OAS thành lập để bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền, ủy ban Đặc trách nhân quyền thành lập năm 1959 và triển khai phiên họp đầu tiên vào năm 1960. Trụ sở ủy ban được đặt tại Washington DC, Hoa Kỳ với trợ giúp của một Ban thư kí thuộc Hội đồng thư kí. Ủy ban gồm bảy chuyên gia độc lập được bầu bởi Đại hội đồng OAS với nhiệm kì 4 năm. Trong các phiên họp, ủy ban tiếp nhận các cáo buộc liên quan tới lạm dụng nhân quyền từ cá nhân hoặc đại diện của các tổ chức.

Nhiệm vụ chính của ủy ban Đặc trách nhân quyền là tiếp nhận và giám sát các kiến nghị nhằm cáo buộc một quốc gia thành viên của OAS vối việc lạm dụng nhân quyền. Trong Tuyên bô' châu Mỹ về quyền và nghĩa vụ của con người đã viết: Nhân quyền phổ biến được Ủy ban bảo vệ và do vậy mọi người hoàn toàn có quyền kiến nghị để được bảo vệ. Các nước đã thông qua Công ước châu Mỹ về nhân quyền sẽ nhận được sự bảo vệ theo Công ước và chịu sự giám sát của ủy ban.

5. Toà án Nhân quyền châu Mỹ (Inter-American Court of Human Rights)

Toà án Nhân quyền châu Mỹ thành lập năm 1978, thời điểm Công ước châu Mỹ bắt đầu có hiệu lực. Ra đời với mục đích thực thi và giải thích các quy định trong Công ước nhân quyền châu Mỹ có trụ sở Toà án tại San José (Costa Rica).

Thành phần: Gồm bảy thẩm phán, được đề cử và bầu bởi các thành viên Công ước với nhiệm kì 6 năm. Một thẩm phán chỉ có thể tái đắc cử một lần. Không có hai thẩm phán cùng quốc tịch. Các thẩm phán phải là người có tư cách đạo đức tốt, có khả năng trong lĩnh vực nhân quyền, có bằng cấp chứng nhận theo luật của nước mà thẩm phán là công dân hoặc của nước đề cử thẩm phán đó.

Cơ cấu:

- Gồm: Có một Chủ tịch và một Phó Chủ tịch được Hội đồng thẩm phán bầu ra.

- Ban thư ký

Nguyên tắc hoạt động: theo quy định tại quy chế Tòa án.

Về các phiên họp của Tòa: Tòa án sẽ tổ chức các phiên họp thường kì và phiên họp đặc biệt. Các phiên họp thường kì được tổ chức theo điều lệ Tòa án. Các phiên họp đặc biệt có thể được triệu tập bởi Chủ tịch hoặc theo yêu cầu của đa số thẩm phán.

Về số thành viên: Số lượng thẩm phán hội ý xét xử gồm năm thẩm phán.

Quyết định của Tòa là quyết định của đa số phiếu. Nếu có sự ngang bằng về số phiếu thì phiếu của chủ tịch sẽ quyết định, về điều trần, hội ý và quyết định: Phiên điều trần sẽ diễn ra công khai, trừ trường hợp đặc biệt theo quyết định khác của Tòa. Tòa sẽ hội ý kín. Việc bàn bạc đưa ra phán quyết của Tòa sẽ được giữ bí mật trừ khi Tòa có quyết định khác. Quyết định, phán quyết và ý kiến của Tòa sẽ được đưa ra phiên họp công khai và từ lúc này các bên sẽ nhận được thông báo.

Về thẩm quyền của Tòa: Tòa có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và thẩm quyền tư vấn. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa được quy định tại Điều 61, 62, 63 Công ước châu Mỹ về nhân quyền. Thẩm quyền tư vấn được quy định tại Điều 64. Thẩm quyền của Tòa khá hạn chế: Tòa chỉ có thể tiếp nhận các vụ mà các nước liên quan có các điều kiện sau: 1. Đã thông qua Công ước nhân quyền châu Mỹ; 2. Đã chấp nhận thẩm quyền của Tòa (vì năm 1992 mới có 13/35 nước kí chấp nhận thẩm quyền của Tòa); 3. ủy ban Đặc trách đã hoàn thành việc điều tra của mình và 4. Vụ việc được đưa ra tòa bởi uỷ ban Đặc trách hoặc quô'c gia liên quan trong vòng ba tháng kể từ sau bản báo cáo của ủy ban. Cá nhân hoặc người trình kiến nghị không thể độc lập đưa vụ việc ra trước Tòa.

Nếu ủy ban đưa vụ việc ra trước Toà án Nhân quyền thì ủy ban thông báo cho người trình kiến nghị. Khi đó, người trình kiến nghị hoặc người ủy quyền sẽ có cơ hội yêu cầu các biện pháp cần thiết, bao gồm sự bảo vệ an toàn cho nhân chứng và bảo vệ bằng chứng.

Thủ tục xét xử tại Tòa được chia ra hai bước: tranh tụng viết và tranh tụng nói.

Trong phần tranh tụng viết: đơn đệ trình bao gồm: sự kiện, nạn nhân, bằng chứng và nhân chứng mà phía nộp đơn có ý định đưa ra trước Tòa, yêu cầu đền bù và chi phí. Nếu thư kí Tòa xét thấy đơn có thể chấp nhận thì sẽ gửi thông báo tới thẩm phán, quốc gia hoặc ủy ban (tùy xem ai là người nộp đơn), các nạn nhân, các quốc gia thành viên và trụ sỗ OAS.

Trong vòng 30 ngày kể từ sau thông báo, bất kì bên nào của vụ kiện cũng có thể đệ trình một bản tóm tắt những phản biện đầu tiên về đơn đó. Nếu thấy cần thiết, Tòa có thể triệu tập một buổi thẩm vấn những phản biện đó. Nếu không Tòa có thể gộp việc thẩm vấn đó và việc xác thực nội dung vào một buổi.

Trong vòng 60 ngày kể từ sau thông báo, bên bị phải gửi đến Tòa câu trả lời về đơn kiện, tuyên bố chấp nhận hoặc phản bác lại các sự kiện và tuyên bố chống lại. Phán quyết của Tòa có tính ràng buộc pháp lý.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)