1. Có được ly hôn với người bị tâm thần?

Câu hỏi: Tôi và chồng tôi kết hôn được 20 năm, chúng tôi đã có hai con chung. Nhưng hiện tại chồng tôi đang bị bệnh thần kinh, đã khám chữa bệnh rất nhiều nơi mà vẫn chưa khỏi. Nên hiện tại tôi muốn ly hôn với chồng tôi nhưng đối với hoàn cảnh của tôi, tôi có thể ly hôn được không?

Trả lời:

Theo quy định của pháp luật hiện hành, không có quy định về việc cấm ly hôn với người bị bệnh tâm thần nên trường hợp này chị hoàn toàn có thể ly hôn đơn phương với chồng chị được. Để ly hôn với người bị bệnh tâm thần, cần phải qua hai bước sau:

Bước 1: Làm thủ tục đề nghị Tòa án tuyên một người mất năng lực hành vi dân sự.

Căn cứ theo Khoản 1, Điều 22, Điều 376  Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 

Điều 22. Mất năng lực hành vi dân sự

1. Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.

Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

Và Theo Điều 376 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 có quy định như sau:

Điều 376. Quyền yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

1. Người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của Bộ luật dân sự.

2. Người thành niên không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi do tình trạng thể chất, tinh thần nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố họ là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của Bộ luật dân sự.

Theo quy định trên, chị có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chồng của chị bị mất năng lực hành vi dân sự. Thủ tục cần có

- Đơn yêu cầu (Theo mẫu)

- Kết luận của cơ quan chuyên môn và các chứng cứ khác để chứng minh người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình.

- Chứng minh thư, hộ khẩu của người yêu cầu và người bị yêu cầu.

Sau khi thụ lý đơn yêu cầu, tòa án sẽ ra quyết định mở phiên họp xem xét có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự. Trong trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự. Khi chồng chị đã bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự nên Tòa án sẽ chỉ định người giám hộ cho bị đơn (chồng chị).

Bước 2: Làm thủ tục đơn phương ly hôn với người chồng bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

Hồ sơ ly hôn nộp cho tòa án bao gồm:

  • Đơn xin ly hôn (theo mẫu)
  • Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);
  • Căn cước hoặc hộ chiếu của các bên (bản sao chứng thực);
  • Quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự;
  • Giấy khai sinh của các con (bản sao chứng thực);
  • Giấy tờ chứng minh về tài sản (bản sao chứng thực) (nếu có yêu cầu).

Sau đó nộp lên Tòa án nhân dân quận/huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc. Khi có đủ các trình tự trên, Tòa án giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung.

Sau khi nộp đơn thì khoảng 5 ngày, Tòa án sẽ mời chị lên để nộp án phí là 300.000 đồng. Sau khi nộp án phí thì 15 ngày sau Tòa án sẽ gọi chị và người được chỉ định giám hộ lên để tham dự phiên hòa giải. Thủ tục hòa giải sẽ diễn ra ít nhất là 3 lần và khoảng 15 ngày Tòa sẽ gọi 1 lần.

Tiếp theo khoảng 15 ngày Tòa sẽ mở phiên Tòa xét xử và ra quyết định ly hôn.

Tổng thời gian giải quyết đối với trường hợp ly hôn đơn phương sẽ khoảng 4 đến 6 tháng.

Như vậy đối với người bị tâm thần mà bên còn lại muốn ly hôn cần phải làm hai bước là tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự và sau đó giải quyết ly hôn theo thủ tục chung.

>> Xem thêm:  Nguyên tắc phân chia tài sản chung khi ly hôn?

 

2. Người bị tâm thần có được quyền nuôi con khi ly hôn?

Chào luật sư, tôi có câu hỏi như sau, em gái tôi không may mắc bệnh tâm thần 1 năm nay . Vào tháng trước chồng có yêu cầu xin ly hôn và giành quyền nuôi con. Hai vợ chồng có con chung 30 tháng tuổi. Vậy cho tôi hỏi em gái tôi có thể có khả năng giành quyền nuôi con không? Cảm ơn. Người hỏi: Nguyễn Huệ (Hà Nội).

Tư vấn xin ly hôn, chia tài sản và nuôi con?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân trực tuyến, gọi:1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn câu hỏi của bạn, sau đây luật sư xin phép được trả lời như sau:

Đầu tiên, theo quy định tại khoản 1, Điều 22 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì:  “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định.” 

Như vậy, em bạn bị coi là mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự khi và chỉ khi có quyết định của Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

Khi người chồng có yêu cầu ly hôn với người vợ theo điều 24 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: "Trong trường hợp một bên vợ, chồng mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì Tòa án chỉ định người khác đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết việc ly hôn. Việc chỉ định của Toà án phải căn cứ vào quy định về giám hộ trong Bộ luật dân sự".

Với vấn đề ở đây là cả vợ và chồng đều muốn giành quyền nuôi con mà người vợ đã mất năng lực hành vị dân sự thì theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, quy định về cách xác định người có quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cái sau ly hôn, cụ thể như sau:

  • Ưu tiên sự thỏa thuận giữa vợ và chồng về người trực tiếp nuôi con;
  • Nếu không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ quyết định giao cho một bên trực tiếp nuôi con căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con;
  • Nếu con trên 07 tuổi thì phải xem xét đến nguyện vọng của con;
  • Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

 =>Trong trường hợp này thì đối với phía toà án sẽ ưu tiên cho vợ chồng tự thoả thuận và thương lượng. Nếu không thương lượng được thì toà án sẽ can thiệp . Đối với con dưới 36 tháng tuổi thì sẽ giao trực tiếp cho người mẹ để nuôi , vì người mẹ bị mắc bệnh tâm thần và không đủ điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng thì sẽ giao quyền cho người cha. Vậy nên nếu gia đình muốn giành quyền nuôi con với người bố, thì đầu tiên hãy thoả thuận thử và chứng minh khả năng điều kiện chăm sóc tốt nhất cho đứa trẻ.

2.1. Nghĩa vụ và quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Căn cứ Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, có quy định về những quyền và nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con, cụ thể như sau:

  • Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
  • Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
  • Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Tuy nhiên, nếu cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Như vậy, dù không thể giành được quyền nuôi con thì người còn lại vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng và tạo những điều kiện thuận lợi, để góp phần nuôi dưỡng con cái phát triển theo chiều hướng tốt nhất.

Ngoài ra, về vấn đề cấp dưỡng, cách xác định mức cấp dưỡng được căn cứ theo Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cụ thể như sau:

  • Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.-
  • Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2.2. Chia tài sản ly hôn đối với người mắc bệnh tâm thần

Khi ly hôn, theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi; tài sản riêng của ai thì sẽ thuộc quyền sở hữu của người đó; trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Pháp luật không có quy định khác biệt về chia tài sản chung của vợ chồng khi một người bị bệnh tâm thần nên khi được giải quyết ly hôn; vẫn sẽ được chia tài sản như bình thường.

Trường hợp có tài sản riêng cần có chứng cứ; chứng minh số tài sản riêng đó thuộc về mình. Trong trường hợp có sự sáp nhập; trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó; trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

Về nguyên tắc; việc chia tài sản sẽ ưu tiên cho 2 bên thỏa thuận. Tuy nhiên; vì một bên bị tâm thần nên không thể thỏa thuận được nên tòa án sẽ chia tài sản theo Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình; tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố như công sức đóng góp của mỗi người trong việc tạo lập tài sản chung, hoàn cảnh của mỗi bên; lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền; nghĩa vụ của vợ chồng,…

Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật theo giá trị; nếu bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.

Phần tài sản mà người bị tâm thần được chia sẽ giao cho người giám hộ của người bị tâm thần quản lý. Nếu có con chung thì sẽ được giao cho người có đủ điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng.

2.3. Trong trường hợp người vợ chữa khỏi bệnh, có được giành lại quyền nuôi con?

Theo điều 84 của Luật hôn nhân gia đình 2014 có quy định về thay đổi người trực tiếp sau khi ly hôn 

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

Với trường hợp khi người mẹ đã chữa khỏi bệnh và có xác nhận của bệnh viện và con trên 7 tuổi có nhu cầu về ở với mẹ thì toà án sẽ xem xét và quyết định cho người mẹ quyền nuôi con. Hoặc vợ chồng sẽ thoả thuận lại về quyền nuôi con.

Một số câu hỏi thường gặp về ly hôn và quyền nuôi con:

Trường hợp nào cha mẹ bị hạn chế khi nuôi con?

Bao gồm:

  • Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;
  • Phá tán tài sản của con;
  • Có lối sống đồi trụy;
  • Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con?

Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.

Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.

Khi con bao nhiêu tuổi thì có thể tự quản lý tài sản cá nhân?

Con từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý.

 

3. Vợ bị tâm thần thì chồng có quyền ly hôn hay không?

Trong thực tiễn có hai trường hợp xảy ra, trường hợp thứ nhất người vợ (chồng) bình thường yêu cầu ly hôn với người còn lại bị bệnh tâm thần mà đã xác định đã mất năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Toà án. Trường hợp thứ hai là người bị bệnh tâm thần (Đã xác định là mất năng lực hành vi dân sự) bị đối xử ngược đãi hay vì một lý do nào đó mà chủ thể khác (Chủ thể thứ ba) đứng ra yêu cầu Toà án giải quyết cho người bị bệnh tâm thần được ly hôn với người vợ (chồng) còn lại.

Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn chỉ bị hạn chế đối với bạn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi được quy định tại khoản 3 Điều 51 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Điều luật qui định về Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn không cấm hay hạn chế trường hợp vợ (chồng) yêu cầu ly hôn với người còn lại bị bệnh tâm thần. Khi có yêu cầu ly hôn trong trường hợp bên bị kiện là người bị tâm thần thì Tòa án phải thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự như chỉ dẫn của khoản 1 Điều 53 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Nhưng chưa có qui định cụ thể nào về tố tụng trong trường hợp người bị kiện trong vụ án ly hôn là người bị tâm bệnh tâm thần. Do đó, Thẩm phán phải vận dụng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xác định tư cách đương sự cho hợp lý.

Khi bị đơn là người bị bệnh tâm thần thì họ không thể tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình, khoản 4 Điều 69 BLTTDS quy định: “Người mất năng lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi tố tụng dân sự. Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện”.

Đại diện cho nhau giữa vợ, chồng khi một bên bị mất năng lực hành vi dân sự cần phải tiếp cận dưới hai phương diện.

Thứ nhất: Vợ (chồng) bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì người còn lại sẽ được xác định là người giám hộ đương nhiên theo qui định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 3 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Khi thực hiện các giao dịch dân sự hoặc tham gia tố tụng tại Toà án với một chủ thể thứ ba thì người giám hộ đại diện và thay mặt họ để thực hiện.

Thứ hai: Nếu ngay chính vợ (chồng) hay nói cách khác là ngay người giám hộ và người được giám hộ có xung đột về lợi ích, xung đột về quyền và nghĩa vụ thì người giám hộ sẽ không đủ điều kiện để giám hộ, Toà án sẽ chỉ định người khác giám hộ để đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự thực hiện bảo vệ các quyền và lợi ích của họ, chẳng hạn như vợ chồng ly hôn.

Nội dung này được qui định tại khoản 3 Điều 24 Luật hôn nhân gia đình năm 2014: "Trong trường hợp một bên vợ, chồng mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì Tòa án chỉ định người khác đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết việc ly hôn. Việc chỉ định của Toà án phải căn cứ vào quy định về giám hộ trong Bộ luật dân sự.

Theo Bộ luật dân sự năm 2015, Toà án chỉ được chỉ định người giám hộ trong trường hợp có tranh chấp giữa những người giám hộ quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Bộ luật này về người giám hộ hoặc tranh chấp về việc cử người giám hộ thì Tòa án chỉ định người giám hộ. Cũng theo Bộ luật dân sự năm 2015 tại khoản 2, khoản 3 Điều 136 quy định về đại diện theo pháp luật của cá nhân là người giám hộ đối với người được giám hộ, cũng có nghĩa là người mất năng lực hành vi dân sự thì người giám hộ là người đại diện cho họ. Toà án chỉ định người đại diện khi không xác định được người đại diện (là người giám hộ đối với người được giám hộ).

 

4. Con bị tâm thần thì cha mẹ có được thay mặt xin ly hôn?

Trong thời gian qua, có một vài vụ việc bố hoặc mẹ viết đơn gửi Toà án vối tư cách là người đại diện xin ly hôn thay cho người con của mình mắc bệnh tâm thần, các Toà án lúng túng trong xử lý? Có Toà án trả lại đơn khởi kiện, có Toà án thụ lý vụ án và xem xét yêu cầu mà người đại diện đưa ra. Thực tế cũng có trưòng hợp trong hồ sơ có đơn xin ly hôn do chính người bị bệnh tâm thần đứng tên, và bố hoặc mẹ có đơn gửi Toà án xin là người đại diện cho con đang bị bệnh tâm thần đã mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết việc ly hôn cho con.

Đối với loại việc này nên xử lý như thế nào hiện còn có những quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Việc xin ly hôn, xin đăng ký kết hôn là một loại quan hệ nhân thân gắn liền với mỗi chủ thể, không thể tách rời. Do đó, không ai có thể uỷ quyền cho người khác thay mặt mình trước Toà án để giải quyết việc ly hôn; nếu người đó mất năng lực hành vi dân sự, thì cũng không có ai có thể đại diện họ để khởi kiện xin ly hôn và đại diện cho họ trước Toà để giải quyết quan hệ nhân thân này. Tại Điều 134 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành về người đại diện, Điều 53, Điều 57, Điều 58 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự và quyền, nghĩa vụ của người giám hộ đã được thể hiện khá rõ, nhưng cũng không có điều nào quy định bố mẹ có quyền đại diện cho con để xin ly hôn, chia tài sản, V.V.. Do đó, Tòa án phải trả lại đơn khỏi kiện của bố hoặc mẹ đứng đơn với tư cách là người đại diện cho người con mất năng lực hành vi dân sự trong vụ án ly hôn, vì những người này không có quyền khởi kiện để xin ly hôn hay chia tài sản chung thay cho người mất năng lực hành vi dân sự.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Khi người vợ hoặc chồng của người mất năng lực hành vi dân sự mà thiếu trách nhiệm, vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ vợ chồng vối người đang mất năng lực hành vi dân sự, thì bố hoặc mẹ sẽ là người giám hộ, người đại điện đương nhiên cho con mình để khỏi kiện xin ly hôn, chia tài sản, con cái, V.V., thì Toà án phải thụ lý giải quyết đơn của họ. Nếu Toà án thấy không thể duy trì được quan hệ vợ chồng thì Tòa án cho người vợ hoặc chồng bị mất năng lực hành vi dân sự ly hôn và giải quyết các quan hệ khác kèm theo nếu người đại diện yêu cầu.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Bố hoặc mẹ của người mất năng lực hành vi dân sự không có quyền đại diện cho con để xin ly hôn, vì đó là quan hệ nhân thân không được uỷ quyền, không được đại diện. Quan hệ nhân thân này phải do chính chủ thể đó thực hiện. Bố hoặc mẹ của người con mất năng lực hành vi dân sự chỉ có quyền đại diện cho con để khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết quan hệ con cái, tài sản, yêu cầu buộc bên kia cấp dưỡng và Toà án phải thụ lý, giải quyết quan hệ con cái, tài sản khi bố mẹ đại diện yêu cầu.

Có thể cho rằng, các ý kiến nêu trên có một số điểm hợp lý nhưng còn nhiều điểm chưa chinh xác hoặc chưa rõ ràng, đầy đủ.

Để xác định bố, mẹ có quyền đại diện cho người con bị bệnh tâm thần khởi kiện xin ly hôn hay không thì cần phải nghiên cứu chế định đại diện và chế định giám hộ được quy định trong Bộ luật dân sự, đồng thời, phải nghiên cứu từ Điều 85 đến Điều 90 trong Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành quy định về người đại diện. Từ nghiên cứu trên, có thể nhận thấy trong trường hợp vợ mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ, nếu chồng mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ. Không có quy định nào cho phép cả hai bên là người chồng (hoặc vợ) và bố mẹ của người mất năng lực hành vi dân sự cùng có quyền giám hộ cho người vợ (hoặc chồng) mất năng lực hành vi dân sự. Khi một người được pháp luật thừa nhận là người giám hộ thì người đó sẽ là người đại diện cho họ trong các quan hệ dân sự, quan hệ tố tụng. Tại khoản 3 Điều 24 Luật hôn nhân và gia đình năm năm 2014 đã quy định rõ:

“Vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật thì người đó phải tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ có liên quan”.

Tuy nhiên, nếu người vợ (hoặc chồng) mất năng lực hành vi dân sự mà người chồng (hoặc vợ) không chăm sóc, không chung thuỷ, thậm chí còn đánh đập, hành hạ họ, v.v. và lấy tài sản chung cho người tình, hoặc tẩu tán tài sản chung, thì trong trường hợp này người chồng (hoặc vợ) đã không làm được vai trò là người giám hộ, là người đại diện mà pháp luật đã trao cho họ, vậy ai có quyền đại diện cho người vợ (hoặc chồng) bị mất năng lực hành vi dân sự để khởi kiện bảo vệ các quyền nhân thân như quyền ly hôn, quyền tài sản, v.v. cho họ không? Điều 135 Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy định: Quyền đại diện được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện (sau đây gọi là đại diện theo ủy quyền); theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là đại diện theo pháp luật). Việc vợ chồng có quyền đại diện cho nhau là một loại đại diện do pháp luật quy định. Nhưng khi người được pháp luật quy định là người đại diện theo pháp luật đã xâm phạm nghiêm trọng quyền lợi của người được đại diện, họ có đương nhiên mất quyền đại diện hay không thì chưa có điểu luật nào thể hiện rõ. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 87 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành thì:

“1. Những người sau đây không được làm người đại diện theo pháp luật:

a) Nếu họ cũng là đương sự trong cùng một vụ việc với người được đại diện mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện;

b) Nếu họ đang là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự cho một đương sự khác mà quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đó đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện trong cùng một vụ việc.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này cũng được áp dụng đối với trường hợp đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự.”

Trong bài này tác giả chưa có điều kiện đề cập sâu vấn đề giám hộ và bằng cách nào để người đang là giám hộ đương nhiên, người đại diện đương nhiên mất quyền giám hộ, quyền đại diện khi họ vi phạm điều kiện của người giám hộ hoặc vi phạm nghĩa vụ giám hộ, hay nói cách khác là muốn thay người giám hộ đương nhiên phải thực hiện theo thủ tục nào? Vấn đề này chúng tôi sẽ đề cập trong một bài khác.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác. Trân trọng./.