1. Hiểu thế nào về truy lĩnh bảo hiểm thất nghiệp

Hiện nay, pháp luật không có quy định về vấn đề truy lĩnh bảo hiểm thất nghiệp. Nhưng lại có quy định về  trường hợp truy lĩnh lương hưu, cụ thể: Căn cứ Điều 64 Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) năm 2014 và hướng dẫn tại Điều 23 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH, hiện có ba trường hợp được truy lĩnh lương hưu: người từng bị tạm dừng lương hưu do bị Tòa án tuyên bố mất tích; người đang hưởng lương hưu hằng tháng có thời gian gián đoạn chưa nhận lương hưu; người hưởng lương hưu mà chết trong thời gian gián đoạn chưa nhận lương hưu. 

Hiểu theo nghĩa thông thường thì truy lĩnh bảo hiểm thất nghiệp cũng giống như việc truy lĩnh lương hưu, cụ thể truy lĩnh là việc hưởng quyền lợi về bảo hiểm thất nghiệp đáng lẽ đã được nhận trước đó nhưng vì một số lý do mà chưa nhận hoặc chưa nhận đủ.

Trường hợp người lao động muốn hưởng quyền lợi từ chế độ bảo hiểm thất nghiệp do trước đó không kịp hưởng thì vẫn phải đảm bảo các điều kiện như các trường hợp hưởng bảo hiểm thất nghiệp được quy định tại Điều 49 Luật Việc làm năm 2013 bao gồm:

- Đã chấm dứt hợp đồng lao động với người sử dụng lao động. trừ trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng.

- Trong vòng 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, phải đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên (hoặc từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng, tùy diện) trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

- Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp cho trung tâm dịch vụ việc làm trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động.

- Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày nộp hồ sơ cho trung tâm dịch vụ việc làm, trừ các trường hợp không tìm được việc làm do thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an, bị tạm giam, ra nước ngoài định cư, chết,… 

Nếu đáp ứng các điều kiện này thì người lao động hoàn toàn có thể truy lĩnh được bảo hiểm thất nghiệp. Tuy nhiên, phải lưu ý thời hạn nộp hồ sơ. Quá thời hạn trên thì người lao động không được giải quyết trợ cấp thất nghiệp trong đợt hưởng đó, mà mức hưởng thời gian này sẽ được bảo lưu và cộng dồn cho lần hưởng sau.

 

2. Rút bảo hiểm xã hội một lần có được truy lĩnh bảo hiểm thất nghiệp không?

Theo quy định, bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp là hai loại bảo hiểm tách biệt nhau và được điều chỉnh bởi các văn bản khác nhau như Luật bảo hiểm xã hội 2014 và Luật Việc làm năm 2013. Vậy nên nếu người lao động đã rút bảo hiểm xã hội một lần rồi thì không ảnh hưởng được việc người lao động có được truy lĩnh bảo hiểm thất nghiệp hay không. Người lao động chỉ cần đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Điều 49 Luật Việc làm nêu tại mục 1 ở bài viết thì đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp. Tuy nhiên có một lưu ý khi người lao động tiến hành thủ tục rút BHXH 1 lần, cơ quan BHXH sẽ tiến hành thu hồi sổ BHXH của người đó, trong đó bảo gồm toàn bộ tờ rời xác nhận thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về bảo hiểm thất nghiệp, sau khi lãnh tiền bảo hiểm 1 lần, người lao động nên yêu cầu cơ quan BHXH cấp lại tờ rời bảo lưu quá trình tham gia bảo hiểm thất nghiệp để sau này gộp với quá trình đóng bảo hiểm sau này.

Bên cạnh đó tại Khoản 1, Điều 8 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 quy định về các trường hợp nếu như người lao động thuộc một trong các trường hợp này thì sẽ được rút bảo hiểm xã hội một lần cụ thể: Đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại các Khoản 1, 2 và 4 Điều 54 của Luật BHXH mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH hoặc theo quy định tại Khoản 3 Điều 54 của Luật BHXH mà chưa đủ 15 năm đóng BHXH và không tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện; sau một năm nghỉ việc mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH và không tiếp tục đóng BHXH; ra nước ngoài để định cư; người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế.

Vậy trong trường hợp người lao động chưa đóng đủ 20 năm cũng không thuộc các trường hợp còn lại mà muốn rút bảo hiểm xã hội thì đợi 1 năm sau khi có quyết định chấm dứt hợp đồng lao động vậy thì ta hiểu ngầm rằng cơ quan BHXH đã đề nghị người lao động hưởng trợ cấp theo thứ tự hưởng trợ cấp thất nghiệp rồi mới tới hưởng BHXH 1 lần.

Nói tóm lại, trường hợp người lao động đã rút bảo hiểm xã hội một lần thì không ảnh hưởng đến việc truy lĩnh bảo hiểm thất nghiệp. Theo quy định, nếu như người lao động đã đủ điều kiện rút và đã thực hiện rút bảo hiểm xã hội một lần nhưng lại có những tháng chưa nhận được bảo hiểm thất nghiệp hoặc chưa nhận đủ bảo hiểm thất nghiệp thì vẫn được tiếp tục hưởng trợ cấp thất nghiệp theo đúng trình tự luật quy định.

 

3. Đã được bảo hiểm xã hội một lần bao lâu mới được truy lĩnh bảo hiểm thất nghiệp?

Pháp luật không quy định về thời điểm được truy lĩnh bảo hiểm thất nghiệp sau khi đã rút bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên ta hiểu rằng việc truy lĩnh bảo hiểm thất nghiệp là việc người đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp sẽ được hưởng những tháng mà họ chưa được hưởng do một số lý do, mà những lý do này được quy định theo quy định của pháp luật. Cụ thể, khoản 3 Điều 53 Luật việc làm 2013 và Điều 21 Nghị định 28/2015/NĐ-CP (được sửa đổi bởi Khoản 9 Điều 1 Nghị định 61/2020/NĐ-CP) quy định những trường hợp đang hưởng trợ cấp thất nghiệp mà bị chấm dứt hưởng những thời gian chấm dứt vẫn được bảo lưu cho lần tiếp theo khi đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp, cụ thể:

Thứ nhất, người lao động có việc làm.

Người lao động được xác định là có việc làm khi thuộc một trong các trường hợp sau:

- Đã giao kết hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên.

- Có quyết định tuyển dụng hoặc bổ nhiệm đối với những trường hợp không thuộc đối tượng giao kết hợp đồng lao động.

- Có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh đối với trường hợp người lao động là chủ hộ kinh doanh hoặc có giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đối với trường hợp người lao động là chủ doanh nghiệp.

- Người lao động thông báo đã có việc làm cho trung tâm dịch vụ việc làm. Ngày mà người lao động được xác định có việc làm là ngày ghi trong thông báo có việc làm của người lao động.

Thứ hai: người lao động thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an.

Thứ ba: người lao động học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

Thứ tư: người lao động chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

Thứ năm: người lao động bị tòa án tuyên bố mất tích;

Thứ sáu: người lao động bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù.

Như vậy nếu như người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp mà thuộc 6 trường hợp nêu trên sẽ được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần tiếp theo khi đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Theo đó, thời gian bảo lưu được tính bằng tổng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trừ đi thời gian đóng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp, theo nguyên tắc mỗi tháng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp tương ứng 12 tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp và trừ những tháng lẻ chưa giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp được bảo lưu trong quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp (nếu có).

Còn nếu như người lao động tạm ngừng hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 53 Luật Việc làm 2013, người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp khi không thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng tháng với trung tâm dịch vụ việc làm nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp. Người lao động bị tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu vẫn còn thời gian được hưởng theo quyết định thì tiếp tục hưởng trợ cấp thất nghiệp khi thực hiện thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng tháng với trung tâm dịch vụ việc làm còn những tháng không thông báo sẽ không được hưởng theo quy định

Như vậy, để được hưởng nốt quá trình đóng bảo hiểm thất nghiệp sau khi rút BHXH 1 lần hay nói cách khác là truy lĩnh bảo hiểm thất nghiệp sau khi rút bảo hiểm xã hội 1 lần thì người lao động phải đi làm và đóng bảo hiểm trở lại rồi sau đó nếu nghỉ việc quyền lợi về bảo hiểm thất nghiệp sẽ được tính trên tổng thời gian đóng bảo hiểm mà chưa hưởng nếu thời gian đó thuộc 6 trường hợp nêu trên, tức bao gồm cả quãng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi rút BHXH 1 lần.

Công ty Luật Minh Khuê mong muốn gửi đến quý khách hàng những thông tin tư vấn hữu ích. Nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có câu hỏi cần được giải đáp, hãy liên hệ với Luật sư tư vấn rút tiền bảo hiểm xã hội một lần trực tuyến1900.6162 để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng. Xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý khách hàng!