1.Lỗi cố ý trực tiếp
Lỗi cố ý trực tiếp là lỗi của một người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhận thức rõ hành vi của mình là có tính nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra. Như vậy, về lý trí, đối với lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội nhận thức rõ, đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi cũng như thấy trước hậu quả sẽ xảy ra nếu thực hiện hành vi đó. Đó là sự nhận thức các tình tiết khách quan, tạo nên tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Việc thấy hậu quả là sự dự kiến của người phạm tội về sự phát triển của hành vi. Đối với các tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất, hậu quả của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc. Vì vậy, sự dự kiến này có thể là dự kiến hậu quả tất nhiên sẽ xảy ra. Trong trường hợp các tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức thì vấn đề thấy trước hay không thấy trước hậu quả không được đặt ra. Nếu hậu quả là tình tiết định khung trong cấu thành tội phạm tăng nặng thì việc khẳng định người phạm tội phạm lỗi cố ý trực tiếp cũng phải đòi hỏi người phạm tội thấy trước được hậu quả. Về ý chí, người phạm tội mong muốn hậu quả phát sinh. Hậu quả được thấy hoàn toàn phù hợp với mục đích và sự mong muốn ban đầu của người phạm tội. Ở các tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất thì việc kiểm tra ý chí của người phạm tội đối với hậu quả đã thấy trước là cần thiết để xác định người đó phạm lỗi cố ý trực tiếp. Ở các tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức thì hậu quả nguy hiểm cho xã hội không là dấu hiệu bắt buộc nên việc xác định ý chí đối với hậu quả là không cần thiết. Muốn xác định người đó phạm lỗi cố ý trực tiếp chỉ cần xác định người đó đã nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà vẫn thực hiện hành vi đó. Nếu hậu quả của tội phạm là tình tiết định khung trong cấu thành tội phạm hoặc là tình tiết tăng nặng thì việc xác định lỗi cố ý trực tiếp cũng cần xác định ý chí đối với hậu quả đã thấy trước.
2.Lỗi cố ý gián tiếp
Lỗi cố ý gián tiếp là lỗi của một người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức rõ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra. Về lý trí, người phạm tội với lỗi cố ý gián tiếp cũng ý thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, thấy trước được hậu quả có thể xảy ra. Việc xảy ra hậu quả không có ý nghĩa gì. Hậu quả xảy ra hay không người phạm tội vẫn chấp nhận. Về ý chí, người phạm tội không mong muốn hậu quả nguy hiểm cho xã hội xảy ra nhưng có ý thức bỏ mặc cho hậu quả đã được thấy trước, do hành vi mình gây ra có thể xảy ra. Khi thực hiện hành vi, người phạm tội nhằm vào một mục đích khác và chấp nhận cả những hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi mình gây ra có thể xảy ra để đạt mục đích mà mình đã đặt ra. Xét sâu hơn về phương diện lý trí, người phạm tội với lỗi cố ý gián tiếp chỉ tồn tại trường hợp nhận thức được hậu quả có thể xảy ra. Nếu người phạm tội nhận thức được hậu quả tất yếu sẽ xảy ra thì không thể có ý chí để mặc cho hậu quả xảy ra (như lỗi cố ý trực tiếp). Như vậy, nếu trong khi thực hiện hành vi, người phạm tội dù không mong muốn hậu quả xảy ra do hành vi của mình nhưng khi đó trong ý thức nhận thấy rằng hậu quả tất yếu xảy ra thì đó là trường hợp lỗi cố ý trực tiếp. Dựa vào nhận thức của can phạm là thấy trước hậu quả “tất yếu” xảy ra so với khả năng “có thể” xảy ra mà tội phạm có lỗi cố ý trực tiếp sẽ nguy hiểm hơn tội phạm có lỗi cố ý gián tiếp.
Ngoài ra, trong lý luận Luật hình sự, một số nhà nghiên cứu còn có cách phân loại lỗi cố ý khác như: cố ý có dự mưu và cố ý đột xuất, cố ý xác định và cố ý không xác định. Nếu giữa việc xuất hiện ý định phạm tội và việc thực hiện ý định đó trong thực tế có một khoảng thời gian nhất định thì đó là cố ý có dự mưu. Trong khoảng thời gian đó, người phạm tội củng cố quyết tâm thực hiện tội phạm, lựa chọn phương pháp, phương tiện thực hiện tội phạm, xây dựng kế hoạch thực hiện tội phạm…Đối với cố ý đột xuất, chủ thể thực hiện ý định phạm tội của mình ngay tức khắc hoặc sau một khoản thời gian không đáng kể, sau khi nảy sinh ý định phạm tội. Cố ý xác định có điểm đặc trưng là người phạm tội có sự hiểu biết về lượng và chất của thiệt hại do hành vi phạm tội của mình gây ra. Ngược lại, cố ý không xác định khi người phạm tội không có một hiểu biết mang tính cá thể, mà chỉ có quan niệm khái quát về các thuộc tính khách quan của hành vi. Ví dụ, khi dùng chân đá vào bụng người khác, người thực hiện hành vi nhận thức được có thể bằng hành vi của mình sẽ gây thương tích cho người khác nhưng không nhận thức được mức độ tổn hại.
3.Lỗi vô ý vì quá tự tin
Lỗi vô ý vì quá tự tin là lỗi trong trường hợp người phạm tội tuy thấy hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được nên vẫn thực hiện và đã gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Về lý trí, người phạm tội nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi mình, nhận thức được hậu quả từ hành vi của mình có thể xảy ra, tuy nhiên, họ tin rằng hậu quả nguy hiểm đó sẽ không xảy ra tương ứng với hành vi họ thực hiện (theo nhận thức của họ). Thực tế, hành vi mà họ thực hiện nguy hiểm hơn nhiều so với sự nhận thức của họ về hành vi của chính mình. Ở điểm này, chúng ta dễ dàng thấy được sự khác nhau giữa lỗi vô ý vì quá tự tin với lỗi cố ý gián tiếp. Mặc dù cả hai đều là trường hợp người phạm tội thấy trước được hậu quả có thể xảy ra nhưng ở lỗi vô ý vì quá tự tin, người phạm tội tin rằng hậu quả sẽ không xảy ra. Điều đó có nghĩa là, sự nhận thức của người phạm tội trong trường hợp vô ý vì quá tự tin không đầy đủ về sự phát sinh hậu quả đó. So với lỗi cố ý gián tiếp, quá trình lý trí ở lỗi vô ý vì quá tự tin có phần giống vì cả hai đều nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình nhưng khác nhau ở chỗ là lỗi vô ý vì quá tự tin quá trình nhận thức các tình tiết khách quan chưa đầy đủ nên đã cho rằng hậu quả không xảy ra. Về phương diện ý chí, người phạm tội không mong muốn hành vi của mình gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Sự không mong muốn hậu quả xảy ra thể hiện ở chỗ người phạm tội loại trừ khả năng xảy ra hậu quả dựa trên cơ sở sự tự tin vào những điều kiện khách quan và chủ quan nhất định. Những cơ sở đó, theo ý thức chủ quan của người phạm tội là có cơ sở nhưng thực tế là những cơ sở không vững chắc. Ví dụ, một bác sĩ biết thuốc đã quá hạn sử dụng có thể nguy hiểm đến tính mạng nhưng vẫn tin vào kinh nghiệm của mình rằng dù thuốc quá hạn nhưng vẫn không ảnh hưởng đến sức khoẻ bệnh nhân, do đó bác sĩ đã phát thuốc cho bệnh nhân và bệnh nhân đã bị ngộ độc. Xét ở phương diện ý chí, trường hợp lỗi vô ý vì quá tự tin và lỗi cố ý gián tiếp có sự khác nhau. Ở lỗi cố ý gián tiếp, người phạm tội tuy không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng có ý thức để mặc cho nó xảy ra và chấp nhận hậu quả đó. Ở lỗi vô ý vì quá tự tin, người phạm tội đã loại trừ khả năng hậu quả sẽ xảy ra nên đã thực hiện hành vi, nếu họ ý thức được hậu quả thực tế có thể xảy ra thì họ không thực hiện hành vi. Đó là yếu tố khiến lỗi cố ý gián tiếp có tính nguy hiểm cao hơn lỗi vô ý vì quá tự tin.
4.Lỗi vô ý do cẩu thả
Lỗi vô ý do cẩu thả là lỗi trong trường hợp người phạm tội đã gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng do cẩu thả nên không thấy trước được khả năng gây ra hậu quả đó mặc dù điều kiện khách quan buộc họ phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó. Đây là trường hợp mà người phạm tội không thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra. Có thể xảy ra hai trường hợp người phạm tội không nhận thức trước được hậu quả. Trường hợp thứ nhất, người phạm tội không nhận thức được mặt thực tế của hành vi của mình và cũng không nhận thức được hậu quả sẽ xảy ra. Ví dụ, thủ kho đưa nhầm chìa khoá và dẫn đến kho bị mất trộm. Trường hợp thứ hai, người phạm tội tuy thấy được mặt thực tế của hành vi nhưng không ý thức được hậu quả sẽ phát sinh từ hành vi. Chẳng hạn, một người ném cục đá to ra cửa sổ khi đường vắng nhưng không may có người đi nên bị trúng. Dấu hiệu kế tiếp để xác định lỗi vô ý do cẩu thả là người phạm tội bị buộc phải và có thể thấy trước được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi mình và khả năng gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó. Điều này có nghĩa là, người phạm tội có nghĩa vụ phải thấy trước hậu quả đó. Hay nói đúng hơn, trong những điều kiện khách quan và chủ quan cụ thể, bất kỳ một người bình thường nào cũng có thể thấy trước được hậu quả mà người phạm tội đã không thấy được. Tóm lại, có hai dấu hiệu để xác định lỗi vô ý do cẩu thả là: - Người phạm tội không thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi mình; - Người phạm tội phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó. Như vậy, điểm khác cơ bản giữa lỗi vô ý do cẩu thả với các lỗi khác là ở chỗ người phạm tội không thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi mình. Vì vậy, lỗi vô ý do cẩu thả có tính nguy hiểm thấp nhất trong tất cả các loại lỗi hình sự khác.
5. Một số trường hợp đặc biệt về lỗi
Trường hợp hỗn hợp lỗi: Trường hợp hỗn hợp lỗi là trường hợp trong cùng một cấu thành tội phạm có hai loại lỗi (cố ý và vô ý) đối với những tình tiết khách quan khác nhau. Lỗi là biểu hiện của mặt chủ quan, lỗi luôn là lỗi của tất cả các tình tiết khách quan được phản ánh trong cấu thành tội phạm cơ bản. Không có những lỗi khác nhau đối với cùng các tình tiết khách quan được mô tả trong một cấu thành tội phạm cơ bản. Không thể nào có trường hợp cố ý đối với hành vi mà vô ý đối với hậu quả, bởi vì trong trường hợp này, lỗi của người phạm tội là lỗi vô ý vì quá tự tin hoặc do cẩu thả. Ngược lại, cũng không thể có trường hợp vô ý đối với hành vi mà cố ý đối với hậu quả vì khi thực hiện hành vi với lỗi vô ý, người phạm tội không thể nhận thức tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi thì làm sao có thể hình dung được khả năng gây ra nguy hiểm và thấy được tính nguy hiểm xảy ra cho xã hội. Cấu thành tội phạm cơ bản chỉ có lỗi cố ý hoặc vô ý. Hỗn hợp lỗi chỉ xảy ra trong trường hợp có cấu thành tội phạm tăng nặng của các tội phạm cố ý với tình tiết định khung tăng nặng là hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Ví dụ, khoản 4 Điều 104 về tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người. Hậu quả “chết người” là tình tiết định khung tăng nặng, hậu quả này do lỗi vô ý của người phạm tội, và hành vi gây thương tích (tình tiết khách quan quy định trong cấu thành tội phạm cơ bản) được thực hiện với lỗi cố ý. Cần phân biệt “hỗn hợp lỗi” với “lỗi hỗn hợp”. Lỗi hỗn hợp là trường hợp có hành vi gây thiệt hại nhưng đó là kết quả của nhiều bên có lỗi, có thể có lỗi của người phạm tội, người bị hại hoặc của những người thứ ba. Chẳng hạn, tai nạn giao thông xảy ra, có thể do lỗi của người lái xe, người bị hại bất cẩn, hoặc có một người nào đó gây ra chướng ngại.
Sự kiện bất ngờ: Theo quy định của Điều 11 Bộ luật hình sự thì, “Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội do sự kiện bất ngờ, tức là trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự”. Trong sự kiện bất ngờ, hành vi vẫn có gây ra thiệt hại cho xã hội nhưng người có hành vi nguy hiểm đó không có lỗi nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội ở đây không bị buộc phải thấy trước hoặc không thể thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội gây ra từ hành vi của mình. Ví dụ, một người vì muốn tự tử nên đã đâm đầu vào xe tải, người lái xe tải rõ ràng là không có nghĩa vụ phải thấy trước việc mình lái xe trên đường sẽ gây nguy hiểm cho xã hội.
Trường hợp sự kiện bất ngờ và lỗi vô ý do cẩu thả có những điểm giống nhau về phương diện ý thức là chủ thể đều không thể thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình, về phương diện ý chí, chủ thể cũng không mong muốn hậu quả nguy hiểm xảy ra. Tuy nhiên, lỗi vô ý do cẩu thả, chủ thể có nghĩa vụ và có điều kiện để thấy trước hậu quả nguy hiểm của hành vi mình. Trong khi, trường hợp sự kiện bất ngờ thì chủ thể không có nghĩa vụ hoặc không có điều kiện để thấy trước hậu quả của hành vi mình. Cần phân biệt trường hợp sự kiện bất ngờ và trường hợp tình thế cấp thiết (Điều 16 Bộ luật hình sự). Trong tình thế cấp thiết, chủ thể thấy trước được hậu quả của hành vi mình nhưng không thể không thực hiện hành vi vì muốn ngăn chặn một hậu quả khác lớn hơn (sẽ đề cập sau trong bài “Những tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi”)
Luật Minh Khuê( sưu tầm và biên tập)