- 1. Mục đích của việc giám sát, kiểm tra việc xử lý VPHC
- 2. Cơ quan có thẩm quyền giám sát, kiểm tra việc xử lý VPHC
- 2.1. Giám sát công tác xử lý vi phạm hành chính
- 2.2. Thẩm quyền kiểm tra công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
- 3. Các hành vi bị nghiêm cấm trong xử lý vi phạm hành chính
1. Mục đích của việc giám sát, kiểm tra việc xử lý VPHC
Việc thực thi công vụ của cơ quan hành chính nhà nước liên quan mật thiết đến các yếu tố khác nhau, bao gồm cả hoạt động của chính cơ quan đó, người đứng đầu cơ quan và sự ảnh hưởng của các yếu tố khách quan và chủ quan. Để đảm bảo rằng việc thực thi công vụ của cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện đúng quy định và mang lại hiệu quả trong thực tế, cần thiết phải thiết lập một cơ chế để theo dõi, kiểm tra và đánh giá việc triển khai thực hiện các công việc thuộc trách nhiệm và thẩm quyền của cơ quan và những người có thẩm quyền trong các cơ quan hành chính nhà nước, theo phạm vi đã được phân công và xác định.
Giám sát có thể hiểu là "sự theo dõi và kiểm tra việc thực hiện các quy định" hoặc "sự theo dõi đều đặn và tích cực của cơ quan, tổ chức hoặc công dân đối với hoạt động của các đối tượng được giám sát, và ảnh hưởng tích cực để đảm bảo rằng các hoạt động đó tuân thủ quy chế và đạt được mục tiêu và hiệu quả đã được xác định trước đó".
2. Cơ quan có thẩm quyền giám sát, kiểm tra việc xử lý VPHC
2.1. Giám sát công tác xử lý vi phạm hành chính
Theo Điều 19 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, quy định như sau:
Quốc hội, các cơ quan thuộc Quốc hội, Hội đồng nhân dân ở các cấp, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, và tất cả công dân đều có quyền giám sát hoạt động của cơ quan và người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính. Khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật từ phía cơ quan hoặc người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, họ có quyền yêu cầu và đề nghị cơ quan và người có thẩm quyền xem xét, giải quyết, và xử lý theo quy định của pháp luật.
Các cơ quan và người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính phải xem xét, giải quyết và đáp ứng yêu cầu, đề nghị đó theo quy định của pháp luật.
Theo đó, Quốc hội, các cơ quan thuộc Quốc hội, Hội đồng nhân dân ở các cấp, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và tất cả công dân đều được coi là những đối tượng tham gia giám sát quá trình xử lý vi phạm hành chính.
2.2. Thẩm quyền kiểm tra công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
Theo quy định tại Điều 2 của Thông tư số 14/2021/TT-BTP, thẩm quyền kiểm tra công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính được quy định như sau:
- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có thẩm quyền kiểm tra công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong phạm vi ngành, lĩnh vực quản lý của mình trên toàn quốc. Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam có thẩm quyền kiểm tra công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong phạm vi được giao tổ chức thực hiện.
Ví dụ: Bộ trưởng Bộ Công Thương kiểm tra công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong phạm vi ngành, lĩnh vực quản lý của mình trên toàn quốc (bao gồm các Cục Quản lý thị trường tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương...).
- Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thẩm quyền kiểm tra công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính của các bộ, cơ quan ngang bộ, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) và các cơ quan quản lý người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính.
- Bộ trưởng Bộ Tư pháp hỗ trợ Chính phủ thực hiện kiểm tra công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính của Tòa án nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước theo quy định tại Điều 17 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền kiểm tra công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính của các cơ quan sau đây:
+ Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp huyện) và Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) thuộc phạm vi địa bàn quản lý;
+ Các cơ quan thuộc cơ quan Trung ương được tổ chức theo ngành dọc trên địa bàn địa phương được liệt kê tại khoản 6 của Điều này.
Đối với cơ quan Trung ương được tổ chức theo ngành dọc trên địa bàn một tỉnh nhưng hoạt động liên quan đến nhiều tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi cơ quan được tổ chức theo ngành dọc trụ sở có thẩm quyền kiểm tra những nội dung liên quan đến công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thuộc phạm vi địa bàn quản lý.
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền kiểm tra công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính của các cơ quan sau đây:
+ Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã thuộc phạm vi địa bàn quản lý;
+ Các cơ quan thuộc cơ quan Trung ương được tổ chức theo ngành dọc cùng cấp thuộc phạm vi địa bàn quản lý được liệt kê tại khoản 6 của Điều này.
- Thủ trưởng cơ quan, đơn vị thuộc cơ quan Trung ương được tổ chức theo ngành dọc quản lý người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, bao gồm: Công an nhân dân; Bộ đội Biên phòng; Cảnh sát biển; Hải quan; Kiểm ngư; Thuế; Quản lý thị trường; Cơ quan thi hành án dân sự; Kho bạc Nhà nước; Ngân hàng Nhà nước; Hệ thống tổ chức thống kê tập trung; Bảo hiểm xã hội và các cơ quan, đơn vị khác thuộc cơ quan Trung ương được tổ chức theo ngành dọc theo quy định của pháp luật, thực hiện kiểm tra công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đối với cơ quan, đơn vị cấp dưới của mình.
Do đó, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị thuộc cơ quan Trung ương đều có thẩm quyền kiểm tra công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
3. Các hành vi bị nghiêm cấm trong xử lý vi phạm hành chính
Cá nhân và tổ chức bị nghiêm cấm thực hiện các hành vi sau đây trong quá trình xử lý vi phạm hành chính:
- Giữ lại các tài liệu vi phạm có dấu hiệu tội phạm để xử lý vi phạm hành chính.
- Lợi dụng chức vụ và quyền hạn để làm phiền, yêu cầu, nhận tiền hoặc tài sản từ người vi phạm; che giấu, bao che hoặc hạn chế quyền của người vi phạm hành chính khi xử phạt vi phạm hoặc áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
- Ban hành các văn bản quy định về hành vi vi phạm hành chính, thẩm quyền, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước và biện pháp xử lý hành chính sai quy định.
- Không xử phạt vi phạm hành chính, không áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hoặc không áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
- Xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hoặc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính không đúng thời gian, không nghiêm minh, không đúng thẩm quyền, thủ tục, đối tượng quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính.
- Xác định hành vi vi phạm hành chính không đúng; áp dụng hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả không đúng, không đầy đủ đối với hành vi vi phạm hành chính.
- Can thiệp trái pháp luật vào quá trình xử lý vi phạm hành chính.
- Kéo dài thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
- Không theo dõi, đôn đốc, kiểm tra hoặc tổ chức cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả.
- Sử dụng tiền thu được từ việc nộp phạt vi phạm hành chính, tiền nộp do chậm thi hành quyết định xử phạt, tiền bán hoặc thanh lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu, và các khoản tiền khác thu được từ xử phạt vi phạm hành chính một cách trái quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
- Giả mạo hoặc làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính và hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
- Xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người bị xử phạt vi phạm hành chính, người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính, người bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính.
- Chống đối, trốn tránh, trì hoãn hoặc cản trở việc thực hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính, quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Bài viết liên quan: Sách Luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn xử lý xử phạt vi phạm hành chính trong mọi lĩnh vực
Mời quý khách hàng liên hệ với công ty Luật Minh Khuê qua số hotline: 1900.6162 hoặc qua email: lienhe@luatminhkhue.vn nếu như còn bất kỳ vướng mắc nào trong giải quyết những vụ việc pháp lý. Xin trân trọng cảm ơn!