- 1. Các trường hợp cơ quan công an gửi giấy triệu tập
- 2. Công an có được triệu tập người dân qua điện thoại hoặc thông qua người khác không?
- 3. Có thể mời Luật sư khi bị Công an triệu tập không?
- 3.1 Đối với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam
- 3.2 Đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp
- 4. Có giấy triệu tập của công an không đi có được không?
1. Các trường hợp cơ quan công an gửi giấy triệu tập
Giấy triệu tập là biểu mẫu tố tụng hình sự được sử dụng trong hoạt động tố tụng hình sự, và chỉ có Cơ quan điều tra hoặc Cơ quan khác trong Công an nhân dân được giao nhiệm vụ sử dụng giấy triệu tập để tiến hành một số hoạt động điều tra mới. Việc sử dụng giấy triệu tập phải tuân thủ đúng mục đích, đối tượng, trình tự, và thủ tục như đã được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Giấy triệu tập chỉ có giá trị làm việc trong một lần, và chỉ được sử dụng đối với người bị can tại ngoại, người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi hoặc nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Các cơ quan, tổ chức, cá nhân nghiêm cấm lợi dụng giấy triệu tập để giải quyết các việc không đúng mục đích, đối tượng, chức năng, thẩm quyền, như lợi dụng việc ký, sử dụng giấy triệu tập gọi hỏi nhiều lần về các vấn đề không quan trọng hoặc không liên quan đến vụ án, hoặc hỏi đi hỏi lại về một vấn đề đã được trình bày trước đó,... Những hành vi này sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và mất uy tín của họ. Hiện nay thì cũng đã có những quy định cụ thể về giấy triệu tập cụ thể thì được quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; khi cơ quan tiến hành tố tụng đã khởi tố vụ án, việc phải có mặt theo giấy triệu tập là một nghĩa vụ bắt buộc đối với các đối tượng sau:
+/ Bị can: Phải có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
+/ Bị cáo: Phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án.
+/ Bị hại: Là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra. Bị hại phải có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
+/ Nguyên đơn dân sự: Là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại.
+/ Nguyên đơn dân sự phải có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và chấp hành quyết định; yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
+/ Bị đơn dân sự: Là cá nhân, cơ quan, tổ chức mà pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Bị đơn dân sự phải có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền; tiến hành tố tụng (điểm a khoản 3 Điều 64).
+/ Người làm chứng trong tố tụng: Là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng.
2. Công an có được triệu tập người dân qua điện thoại hoặc thông qua người khác không?
Căn cứ theo Thông tư 01/2006/TT-BCA(C11) thì nghiêm cấm lợi dụng việc sử dụng giấy triệu tập để giải quyết các việc không đúng mục đích, đối tượng, chức năng, thẩm quyền như lợi dụng việc ký, sử dụng giấy triệu tập gọi hỏi nhiều lần về các vấn đề không quan trọng, không liên quan đến vụ án hoặc hỏi đi hỏi lại về một vấn đề mà họ đã trình bày, ..... làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức, làm mất uy tín cửa cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Nghiêm cấm Điều tra viên gọi điện thoại hoặc thông qua người khác để yêu cầu người được triệu tập đến làm việc mà không có giấy triệu tập hoặc giấy mời. Trước khi triệu tập hoặc mời thì Điều tra viên phải tính toán về thời gian, về việc đi lại của người được triệu tập để tránh gây phiền hà về thời gian hoặc đi lại nhiều lần của người được triệu tập hoặc được mời.
Nếu người được triệu tập hoặc được mời ở quá xa trụ sở của Cơ quan điều tra thì có thể triệu tập hoặc mời họ đến trụ sở Công an nơi ở hoặc nơi làm việc của họ để lấy lời khai hoặc báo cáo đề xuất Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra được phân công chỉ đạo điều tra vụ án thực hiện việc ủy thác điều tra.
Khi gặp và tiến hành lấy lời khai của những người tham gia tố tụng hình sự theo giấy triệu tập hoặc giấy mời, Điều tra viên phải có thái độ đúng mực, lịch sự, ứng xử có văn hóa trong hoạt động điều tra. Nghiêm cấm mọi hành vi hống hách, quan liêu, cửa quyền, lăng mạ, xúc phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm của người được triệu tập đến Cơ quan điều tra để tiến hành lấy lời khai.
3. Có thể mời Luật sư khi bị Công an triệu tập không?
Theo quy định tại Điều 16, 60, 61 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định về quyền của bị can, bị cáo được thuê luật sư để bào chữa cho mình. Do đó, trong mọi trường hợp kể từ khi bị bắt, bị tạm giữ hoặc thậm chí một hình thức khác như bị mời làm việc cũng có thể tiến hành yêu cầu luật sư có mặt để tham gia bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Thông tư 46/2019/TT-BCA quy định trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền khi tiếp nhận việc bắt giữ phải giải thích quyền, nghĩa vụ cho người bị bắt trong đó có quyền được nhờ luật sư bào chữa. Cụ thể:
3.1 Đối với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam
- Trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam có đơn yêu cầu người bào chữa thì Cơ quan điều tra, cơ sở giam giữ đang quản lý người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 75 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Cơ sở giam giữ có trách nhiệm thông báo cho cơ quan đang thụ lý vụ án biết.
Việc chuyển đơn yêu cầu người bào chữa của cơ quan đang quản lý người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam được gửi trực tiếp tại trụ sở cơ quan này hoặc gửi qua đường bưu chính. Nếu gửi trực tiếp tại trụ sở cơ quan đang quản lý người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam thì phải có ký nhận tại Sổ giao nhận công văn, tài liệu.
- Trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam chưa yêu cầu nhờ người bào chữa thì trong lần đầu tiên lấy lời khai người bị bắt, người bị tạm giữ, lần đầu tiên hỏi cung bị can, Điều tra viên hoặc Cán bộ điều tra phải hỏi rõ người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can có nhờ người bào chữa hay không và phải ghi ý kiến của họ vào biên bản.
Nếu họ có yêu cầu nhờ người bào chữa thì Điều tra viên hoặc Cán bộ điều tra hướng dẫn họ viết đơn nhờ người bào chữa và thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này. Trường hợp họ không nhờ người bào chữa thì trong thời hạn 12 giờ sau khi lấy lời khai người bị bắt, người bị tạm giữ, 24 giờ kể từ khi hỏi cung bị can lần đầu, Điều tra viên, Cán bộ điều tra đã lấy lời khai, hỏi cung có trách nhiệm thông báo cho người đại diện hoặc người thân thích của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam.
3.2 Đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp
- Trường hợp người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp có đơn yêu cầu người bào chữa thì trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được đơn yêu cầu người bào chữa, cơ quan nhận đơn của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp có trách nhiệm chuyển đơn này cho người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.
Trường hợp người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp không nêu đích danh người bào chữa thì cơ quan nhận đơn phải chuyển đơn này cho người đại diện hoặc người thân thích của họ để những người này nhờ người bào chữa. Việc chuyển đơn được thực hiện qua đường bưu chính hoặc trực tiếp tại trụ sở cơ quan đang quản lý người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp nếu người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích có nhu cầu nhận trực tiếp tại trụ sở cơ quan này và có ký nhận tại Sổ giao nhận công văn, tài liệu.
Việc chuyển đơn có thể được thực hiện cùng với việc thông báo cho người đại diện hoặc người thân thích của họ. Trong quá trình thực hiện việc chuyển đơn, nếu người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp bị áp dụng biện pháp tạm giữ thì việc tiến hành các thủ tục đăng ký bào chữa tiếp tục được thực hiện, không phải làm các thủ tục đăng ký đối với người bị tạm giữ.
- Trường hợp người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp không yêu cầu người bào chữa thì trong thời hạn 12 giờ kể từ khi lập xong biên bản giao nhận Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, cơ quan đang quản lý người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thông báo cho người đại diện hoặc người thân thích của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Trường hợp người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp bị tạm giữ thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Thông tư số 46/2019/TT-BCA.
Lưu ý rằng: Khi cơ quan thẩm quyền từ chối việc thuê luật sư của bạn, và giải thích rằng đang mời làm việc chứ chưa khởi tố điều tra vụ án thì bạn hoàn toàn có thể từ chối làm việc, từ chối hợp tác với mọi câu hỏi của người hỏi. Và tất nhiên khi cơ quan thẩm quyền áp giải, hay đưa bạn đi đâu đó đều phải có lệnh, giấy tờ chứng minh cho việc đó, bạn phải yêu cầu họ xuất trình, nếu không thì bạn phải từ chối hợp tác.
Sau khi có yêu cầu thuê luật sư bào chữa, thì mọi hoạt động của cơ quan có thẩm quyền phải được thông báo cho luật sư biết để tham gia. Nếu luật sư không tham gia thì người bị bắt, giữ có quyền từ chối làm việc đến khi có luật sư.
Luật sư sẽ là người tham dự cung cùng cơ quan thẩm quyền để hướng dẫn, hỗ trợ người bị bắt, giữ trong việc khai báo phù hợp. Cơ quan thẩm quyền chỉ có nghĩa vụ giải thích mà không được tác động, xúi dục người bị bắt, giữ từ chối luật sư.
4. Có giấy triệu tập của công an không đi có được không?
Hiện nay thì thẩm quyền ký giấy triệu tập trong một vụ án hình sự là công an. Khi tiến hành triệu tập thì người dân bắt buộc phải đến nếu không có thể bị áp giải, dẫn giải. Theo quy định tại điều 127 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, theo đó cụ thể như sau:
Áp giải có thể áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội.
Dẫn giải có thể áp dụng với:
- Người làm chứng trong trường hợp họ không có mặt theo giấy triệu tập mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan;
- Người bị hại trong trường hợp họ từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan;
- Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ án, đã được triệu tập mà vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.
Không được bắt đầu việc áp giải, dẫn giải người vào ban đêm; không được áp giải, dẫn giải người già yếu người bị bệnh nặng có xác nhận của cơ quan y tế.
Hiện nay thì pháp luật chưa đưa ra quy định là sẽ bị phạt như thế nào khi không đến theo giấy triệu tập của cơ quan công an. Tuy nhiên, để đảm bảo các rủi ro có thể xảy ra thì điều tốt nhất khi nhận được giấy triệu tập thì chúng ta nên chấp hành theo lệnh trong giấy triệu tập.
Bên cạnh đó, tại khoản 3 Điều 182 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 cũng nêu rõ như sau: "Bị can phải có mặt theo giấy triệu tập. Trường hợp vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan hoặc biểu hiện trốn tránh thì Điều tra viên có thể ra quyết định áp giải".
Ngoài ra, bạn đọc có thể tham khảo nội dung bài viết Mẫu giấy triệu tập của công an năm 2023 mới nhất.
Trên đây là toàn bộ những nội dung có liên quan đến giấy triệu tập của cơ quan công an. Hi vọng rằng những thông tin mà chúng tôi vừa cung cấp đã giúp cho các bạn có thêm thông tin hiểu biết về giấy triệu tập, từ đó có thể biết quyền và nghĩa vụ của công dân khi nhận được giấy triệu tập. Ngoài ra, nếu bạn đọc còn có những câu hỏi thắc mắc khác thì có thể liên hệ với chúng tôi thông qua số điện thoại của tổng đài 1900.6162 được hỗ trợ tư vấn một cách nhanh nhất. Hoặc các bạn có thể liên hệ qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn hoặc liên hệ với LS.Phương qua số điện thoại 098.546.5912