1. Tội tham ô tài sản là gì ?
Tội tham ô tài sản là một tội phạm cụ thể, mang đặc điểm chung của tội phạm nói chung theo khái niệm tội phạm được quy định tại Điều 8 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xuất phát từ thực tiễn phòng chống tham nhũng nói chung và đấu tranh với tội phạm tham ô tài sản ở Việt Nam thời gian qua, BLHS năm 2015 đã có sự điều chỉnh trong việc xác định khái niệm các tội phạm về chức vụ nói chung và tội phạm tham ô tài sản nói riêng. Theo đó, các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ.
Từ khái niệm tội phạm về chức vụ, tội tham ô tài sản theo Điều 353 BLHS năm 2015 là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại mục 1 Chương này (từ Điều 353 đến Điều 359), chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.
Đặc điểm của tội tham ô tài sản :
- Tội tham ô tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm hoạt động đúng đắn và sở hữu của cơ quan, tổ chức trong hoặc ngoài Nhà nước; xâm phạm đến sở hữu của cơ quan, tổ chức trong hoặc ngoài Nhà nước, nghĩa là xâm phạm đến các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức trong hoặc ngoài Nhà nước, người phạm tội thông qua hành vi chiếm đoạt tài sản do mình quản lý, chuyển dịch bất hợp pháp tài sản thuộc sở hữu của cơ quan, tổ chức thành tài sản của riêng mình hoặc cho người thân thích làm chủ sở hữu mất quyền sở hữu về tài sản.
- Tội tham ô tài sản được thực hiện do người có chức vụ, quyền hạn trong quản lý tài sản và có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản.
- Tội tham ô tài sản là tội phạm có tính chất chiếm đoạt nên người thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp.
2. Dấu hiệu pháp lý của tội tham ô tài sản
2.1. Khách thể của tội tham ô tài sản
Khách thể của tội tham ô tài sản là hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức và sở hữu của cơ quan, tổ chức đó.
Hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức là những hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ do pháp luật hoặc do điều lệ, quy chế, quy định những hoạt động này nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tôn chỉ mục đích của cơ quan, tổ chức phù hợp với Hiến pháp và pháp luật Việt Nam. Những hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức bị xâm phạm do tội phạm tham ô tài sản gây ra chính là những quy định của pháp luật, của điều lệ, quy chế, quy định hoặc phải thực hiện mà không thực hiện, buộc phải làm mà không làm, cấm không được làm thì lại làm.
2.2. Mặt khách quan của tội tham ô tài sản
- Về hành vi khách quan của tội tham ô tài sản : dấu hiệu hành vi khách quan của tội tham ô tài sản là lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản hay là hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn. Hành vi chiếm đoạt tài sản và thủ đoạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn có mối quan hệ mật thiết với nhau, thủ đoạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong quản lý tài sản tao điều kiện cho hành vi chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý. Chỉ khi cả hai đồng thời xảy ra mới cấu thành tội tham ô tài sản, nếu hành vi chiếm đoạt tài sản của người có chức vụ, quyền hạn thực hiện không liên quan đến lợi dụng chức vụ, quyền hạn của họ thì không bị coi là tội tham ô tài sản và ngược lại.
- Về hậu quả của tội phạm : người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý giá trị từ 2 triệu đồng trở lên thì mới bị truy cứu TNHS còn nếu chiếm đoạt tài sản dưới 2 triệu đồng thì phải thuộc một trong các trường hợp đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội pham quy định tại mục 1 chương này, chưa bị xoá án tích mà còn vi phạm thì mới bị truy cứu TNHS. Tội tham ô tài sản cũng quy định định lượng, giá trị tài sản bị chiếm đoạt là dấu hiệu định tội phản ảnh hậu quả của tội tham ô tài sản, dấu hiệu hậu quả của tội tham ô tài sản là tài sản thuộc sở hữu của cơ quan, tổ chức trong và ngoài khu vực nhà nước bị người phạm tội chiếm đoạt.
2.3. Chủ thể của tội tham ô tài sản
Chủ thể của tội tham ô tài sản là con người cụ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt đủ độ tuổi chịu TNHS. Căn cứ quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015 thì liên hê với quy định của Điều 353 BLHS năm 2015 về tội tham ô tài sản thì thấy rằng chỉ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên mới có thể là chủ thể của tội tham ô tài sản.
Dấu hiệu chủ thể đặc biệt là người có chức vụ, quyền hạn trong quản lý tài sản. Người phạm tội tham ô tài sản phải là người có chức vụ, quyền hạn và có trách nhiệm quản lý đối với tài sản mà họ chiếm đoạt, do tội tham ô tài sản được quy định trong chương các tội phạm về chức vụ nên chỉ có những người được quy định tại Điều 352 BLHS mới có thể là chủ thể của tội tham ô tài sản.
Lưu ý, chỉ có người có chức vụ, quyền hạn trong quản lý tài sản mới có thể là chủ thể của tội tham ô tài sản, nếu họ không có trách nhiệm quản lý tài sản thì không thể là chủ thể tội phạm này. Việc xác định trách nhiệm của một người đối với tài sản là rất quan trọng, nếu xác định không đúng tư cách của người có trách nhiêm đối với tài sản mà họ chiếm đoạt thì rất dễ nhầm lẫn với các tội phạm có tính chất chiếm đoạt khác như tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản...
2.4. Mặt chủ quan của tội tham ô tài sản
Tội tham ô tài sản là tội có tính chất chiếm đoạt nên lỗi của người thực hiện hành vi phạm tội tham ô là lỗi cố ý trực tiếp, nghĩa là người phạm tội nhận thức rõ hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý là hành vi nguy hiểm cho xã hội, pháp luật không cho phép làm, thấy trước được hậu quả của hành vi đó và khi họ thực hiện hành vi đó luôn luôn mong muốn cho hậu quả xảy ra để đạt được mục đích phạm tội. Mục đích phạm tội là kết quả trong ý thức chủ quan mà người phạm tội đặt ra phải đạt được khi thực hiện hành vi phạm tội.
Người phạm tội tham ô tài sản khi thực hiện tội phạm nhằm tới mục đích vụ lợi, tức là chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức giao cho mình có trách nhiệm quản lý về làm tài sản riêng của mình.
3. Đối chiếu với câu hỏi để giải quyết
Ý kiến "Mọi hành vi chiếm đoạt tài sản do mình quản lý đều cấu thành tội tham ô tài sản theo Điều 353 BLHS năm 2015" là một ý kiến sai, bởi vì
Theo quy định của pháp luật thì tham ô tài sản là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý. Đối tượng tác động của tội này là tài sản của Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước.
Tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây :
+ Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;
+ Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Điều 353 đến Điều 359 chưa được xoá án tích mà còn vi phạm
Chính vị vậy, nếu tài sản bị tham ô dưới 2 triệu đồng và không thuộc các trường hợp bên trên thì người có hành vi này không thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 353 Bộ luật hình sự năm 2015
Trên đây là ý kiến của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Nếu còn bất cứ vướng mắc nào, vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tới email: lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp nhanh chóng. Rất mong nhận được sự hợp tác của quý khách hàng !