1. Thế nào là bắn tốc độ?
Có thể hiểu một cách đơn giản rằng bắn tốc độ là công việc của CSGT để kiểm tra tốc độ của các phương tiện trên đường. CSGT sử dụng thiết bị đo tốc độ đặc biệt để tính toán tốc độ của xe trên một đoạn đường cụ thể. Sau khi xác định xem có vi phạm về tốc độ hay không, thiết bị này cũng có khả năng ghi lại hình ảnh của phương tiện vi phạm.
Theo Nghị định 135/2021/NĐ-CP của Chính phủ, các loại máy đo tốc độ có khả năng ghi hình ảnh này được xem là phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ nằm trong danh mục được sử dụng để giúp CSGT phát hiện hành vi vi phạm hành chính về trật tự và an toàn giao thông đường bộ.
CSGT thường sử dụng súng bắn tốc độ trên các đoạn đường cao tốc, nơi mà các lái xe thường khó kiểm soát vận tốc của mình. Ngoài ra, trên các đoạn đường quốc lộ có mật độ phương tiện cao, cơ quan chức năng cũng thường xuyên kiểm tra tốc độ và áp dụng biện pháp xử phạt khi cần thiết.
2. Quy định về hành vi chạy quá tốc độ đối với ô tô
2.1. Quy định về tốc độ tối đa của các loại xe
Đối với khu vực đông dân cư (trừ đường cao tốc)
Thông tư 31/2019/TT-BGTVT quy định tốc độ tối đa của các loại xe khi tham gia giao thông như sau:
- Đường đôi; đường một chiều có từ hai làn xe cơ giới trở lên: tối đa 60 km/h.
- Đường hai chiều; đường một chiều có một làn xe cơ giới: tối đa 50 km/h.
- Xe máy chuyên dùng, xe gắn máy (bao gồm xe máy điện) và các loại xe tương tự: tối đa 40 km/h.
Đối với khu vực ngoài đông dân cư (trừ đường cao tốc)
Thông tư 31/2019/TT-BGTVT quy định tốc độ tối đa của các loại xe khi tham gia giao thông như sau:
- Ô tô con, ô tô chở người đến 30 chỗ (trừ xe buýt); ô tô tải có trọng tải dưới hoặc bằng 3,5 tấn:
- Đường đôi; đường một chiều có từ hai làn xe cơ giới trở lên: tối đa 90 km/h.
- Đường hai chiều; đường một chiều có một làn xe cơ giới: tối đa 80 km/h.
- Ô tô chở người trên 30 chỗ (trừ xe buýt); ô tô tải có trọng tải trên 3,5 tấn (trừ ô tô xi téc):
- Đường đôi; đường một chiều có từ hai làn xe cơ giới trở lên: tối đa 80 km/h.
- Đường hai chiều; đường một chiều có một làn xe cơ giới: tối đa 70 km/h.
- Ô tô buýt; ô tô đầu kéo kéo sơ mi rơ moóc; xe mô tô; ô tô chuyên dùng (trừ ô tô trộn vữa, ô tô trộn bê tông):
- Đường đôi; đường một chiều có từ hai làn xe cơ giới trở lên: tối đa 70 km/h.
- Đường hai chiều; đường một chiều có một làn xe cơ giới: tối đa 60 km/h.
- Ô tô kéo rơ moóc; ô tô kéo xe khác; ô tô trộn vữa, ô tô trộn bê tông, ô tô xi téc:
- Đường đôi; đường một chiều có từ hai làn xe cơ giới trở lên: tối đa 60 km/h.
- Đường hai chiều; đường một chiều có một làn xe cơ giới: tối đa 50 km/h.
2.2. Mức phạt lỗi chạy quá tốc độ đối với xe ô tô
Theo Nghị định 100/2019/NĐ-CP (được sửa đổi bởi Nghị định 123/2021/NĐ-CP), mức phạt cho hành vi điều khiển ô tô chạy quá tốc độ được quy định như sau:
- Chạy quá tốc độ từ 05 km/h đến dưới 10 km/h: Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng (Điểm a Khoản 3 Điều 5 Nghị định 100/2019/NĐ-CP).
- Chạy quá tốc độ từ 10 km/h đến 20 km/h: Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng (Điểm i Khoản 5 Điều 5 Nghị định 100/2019/NĐ-CP, được sửa đổi tại điểm đ Khoản 34 Điều 2 Nghị định 123/2021/NĐ-CP). Người điều khiển xe còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 01 đến 03 tháng (Điểm b Khoản 11 Điều 5 Nghị định 100/2019/NĐ-CP).
- Chạy quá tốc độ từ 20 km/h đến 35 km/h: Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng (Điểm a Khoản 6 Điều 5 Nghị định 100/2019/NĐ-CP). Người điều khiển xe còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 đến 04 tháng (Điểm c Khoản 11 Điều 5 Nghị định 100/2019/NĐ-CP).
- Chạy quá tốc độ trên 35 km/h: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng (Điểm c Khoản 7 Điều 5 Nghị định 100/2019/NĐ-CP). Người điều khiển xe còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 đến 04 tháng (Điểm c Khoản 11 Điều 5 Nghị định 100/2019/NĐ-CP).
3. Công an có được quyền đứng núp để bắn tốc độ xe ô tô không?
Thực tế đã chứng minh rằng chạy quá tốc độ là một trong các nguyên nhân trực tiếp dẫn đến các vụ tai nạn giao thông (TNGT). Để giảm thiểu TNGT, việc lực lượng Cảnh sát Giao thông (CSGT) kiểm soát tốc độ các phương tiện tham gia giao thông và xử lý kịp thời những người lái xe vi phạm là vô cùng cần thiết.
Tuy nhiên, nhiều lái xe đã tìm cách tránh bị phát hiện vượt tốc độ công khai. Khi phát hiện các trạm, chốt kiểm soát của CSGT, họ giảm tốc độ hoặc né tránh; còn người lái xe bị xử phạt thì thông báo cho người lái xe khác biết để tránh việc bị phát hiện, gây khó khăn trong việc thực thi nhiệm vụ của lực lượng CSGT...
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 11 Thông tư 65/2020/TT-BCA, các phương tiện và thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được lắp đặt và sử dụng công khai hoặc hóa trang trên các tuyến đường giao thông, tại Trạm Cảnh sát Giao thông, trên các phương tiện giao thông tuần tra, kiểm soát, trang bị cho Tổ Cảnh sát Giao thông, do cán bộ Cảnh sát Giao thông trực tiếp vận hành và sử dụng, nhằm phát hiện và ghi nhận hành vi vi phạm của người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ.
Dựa trên các căn cứ trên, Bộ Công an khẳng định rằng việc lực lượng CSGT kết hợp giữa biện pháp công khai và bí mật (hóa trang) để kiểm soát tốc độ là cần thiết, dựa trên thực tiễn công tác và tuân thủ quy định của pháp luật.
Ngoài ra, Thông tư 65/2020 quy định về trang phục của cảnh sát giao thông như sau:
- Khi tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm, cảnh sát giao thông sử dụng trang phục Cảnh sát và đeo số hiệu Công an nhân dân. Trong điều kiện thời tiết sương mù, buổi tối hoặc ban ngày có thời tiết xấu hạn chế tầm nhìn, phải mặc áo phản quang.
- Trong trường hợp kiểm soát thông qua phương tiện và thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, một phần cảnh sát giao thông được bố trí mặc trang phục thường phục để vận hành và sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để giám sát tình hình trật tự và an toàn giao thông, phát hiện các hành vi vi phạm luật giao thông đường bộ.
Cần lưu ý rằng việc mặc trang phục Cảnh sát hoặc trang phục thường phục khi sử dụng phương tiện và thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ sẽ do Trưởng phòng Hướng dẫn tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông, Trưởng Công an huyện trở lên quyết định. Đồng thời, phải ghi rõ trong kế hoạch tuần tra, kiểm soát.
Do đó, dựa trên các quy định trên, Cảnh sát giao thông chỉ được mặc trang phục thường phục khi sử dụng phương tiện và thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ nếu đã được sự cho phép từ Trưởng phòng Hướng dẫn tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông, Trưởng Công an huyện và thông tin này phải được ghi rõ trong kế hoạch.
Tóm lại, Cảnh sát giao thông có thể áp dụng các biện pháp nghiệp vụ như công khai và kết hợp công khai với hoá trang mật phục theo quy định của Bộ Công an. Như vậy, công an vẫn có thể được quyền đứng núp để bắn tốc độ xe ô tô.
Để tìm hiểu thêm thông tin liên quan, mời quý bạn đọc tham khảo bài viết: Chạy quá tốc độ khi nào thì bị giam bằng và mức phạt tiền là bao nhiêu?
Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê liên quan đến vấn đề: Công an có được quyền đứng núp để bắn tốc độ xe ô tô không? Mọi thắc mắc chưa rõ hay có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách hàng vui lòng liên hệ với bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tư vấn qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.