Việc hình thành nhà nước và pháp luật là một quá trình rất lâu dài. Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới nếu xác định nghiêm ngặt sẽ không bao gồm giai đoạn tiền nhà nhà nước và tiền pháp luật, song muốn đánh giá một cách toàn diện, không thể tách rời việc đánh giá theo những chuẩn mực khoa học về lịch sử giai đoạn trước khi nhà nước xuất hiện, đó chính là chế độ công xã nguyên thuỷ.

Công xã nguyên thuỷ là một thời kỳ nhưng mà cho tới hiện tại vẫn luôn là đề tài nghiên cứu của nhiều người. Tuy nhiên, có rất ít người có kiến thức liên quan tới thời đại này.

Vì vậy, trong bài viết hôm nay, chúng tôi sẽ giới thiệu cho độc giả một số nội dung liên quan tới vấn đề: Công xã nguyên thuỷ là gì?

 

1. Công xã nguyên thuỷ là gì?

Theo quan niệm hình thái kinh tế - xã hội, lịch sử cổ đại sẽ không bao gồm chế độ công xã nguyên thuỷ. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chế độ công xã nguyên thuỷ là giai đoạn đầu tiên và dài nhất trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Nếu căn cứ từ khi có con người xuất hiện trên trái đất cho tới khi xã hội bắt đầu phân chia thành giai cấp và xuất hiện nhà nước, khoa học lịch sử đã khẳng định rằng khoảng hơn hai triệu năm con người sống không có nhà nước và pháp luật.

Công xã nguyên thuỷ là giai đoạn đầu tiên và dài nhất trong lịch sử phát triển của loài người, từ khi có con người xuất hiện trên Trái Đất đến khi xã hội nguyên thuỷ chuyển đổi thành xã hội giai cấp và xuất hiện chế độ nhà nước.

Nguyên nhân của sự trì trệ đó thực chất là do điều kiện lao động kiếm sống của con người vô cùng thấp và chậm phát triển. Ta thấy được rằng, trong suốt quá trình tăng trưởng của công xã nguyên thuỷ, vật liệu chính để chế tạo dụng cụ lao động đó chính là đá, một loại vật liệu vừa cứng vừa giòn nhưng mà con người chỉ có thể chế tạo ra những dụng cụ khá thô sơ và muốn hoàn thiện các công cụ này cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Không những thế mà ở công xã nguyên thuỷ, những thói quen lao động của con người cũng còn hết sức lạc hậu.

Từ kỹ thuật đục đẽo tới kỹ thuật mài đá yêu cầu sự tích luỹ kinh nghiệm hàng nghìn năm. Do trình độ công nghệ thấp, người nguyên thuỷ phải sống hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên. Hoàn cảnh buộc họ phải cùng nhau lao động tập thể và đấu tranh để sinh tồn.

Cũng chính vì thế, trong xã hội nguyên thuỷ không có tư hữu, không có bóc lột và không có bộ máy chính quyền dưới bất kỳ hình thức nào. Đó là một xã hội không có giai cấp, không có nhà nước nên được gọi là công xã nguyên thuỷ.

>> Xem thêm: Xã hội nguyên thủy đã trải qua những giai đoạn nào? 

 

2. Tìm hiểu về công xã nguyên thủy

2.1. Hình thành thị tộc và bộ lạc

Chế độ cộng sản nguyên thuỷ là hình thái kinh tế - xã hội đầu tiên của xã hội loài người, trong đó không tồn tại giai cấp và nhà nước.

Bầy người nguyên thuỷ là hình thức tập hợp đầu tiên, tự nhiên và hết sức giản đơn của con người. Mỗi bầy gồm vài chục người dựa vào nhau cùng chung sống, cùng tiến hành các hoạt động săn bắt và hái lượm, cùng sử dụng chung phần sản phẩm thu hái được, cùng tiến hành các hoạt động tính giao dưới hình thức tạp hỗn. Dĩ nhiên, bầy người nguyên thuỷ không hề biết đến tài sản riêng và sự phân biệt giàu nghèo. Đây là một liên kết lỏng lẻo, không có sự quản lý và rất dễ tan vỡ.

Trải qua hàng triệu năm sống thành bầy, con người nguyên thuỷ bước vào giai đoạn xã hội có tổ chức cao hơn, có sự quản lý đầu tiên của xã hội loài người - giai đoạn công xã nguyên thuỷ. Đơn vị tế bào của công xã nguyên thuỷ là tổ chức thị tộc được hình thành do kết quả cộng cư ổn định của những nhóm người có cùng huyết thống (ở giai đoạn đầu huyết thống được xác định theo dòng máu người mẹ nên đó là thị tộc mẫu hệ, ở giai đoạn cuối huyết thống được xác định theo dòng máu người cha nên đó là thị tộc phụ hệ). Ở phạm vi xã hội rộng hơn, sự liên kết giữa các thị tộc có quan hệ hôn nhân với nhau đã tạo thành các bào tộc và cùng với sự phát triển của xã hội, nhiều bào tộc có quan hệ kinh tế và địa vực đã hợp lại thành các bộ lạc. Vì vậy, tổ chức thị tộc - bộ lạc chính là hình thái biểu hiện cơ bản của công xã nguyên thuỷ.

Công xã nguyên thuỷ thuộc phạm trù xã hội không có tư hữu và giai cấp. Thị tộc là đơn vị kinh tế vừa sản xuất vừa tiêu dùng. Nền tảng vật chất của thị tộc là lao động sản xuất tập thể và quyền sở hữu chung đối với tài sản của thị tộc. Nguyên tắc phân phối đặc trưng của thị tộc là nguyên tắc bình quân. Trong thị tộc, năng suất lao động rất thấp chỉ tạo ra được khối lượng sản phẩm đủ duy trì ở mức tối thiểu nhu cầu của các thành viên trong xã hội, vì thế xã hội không có sản phẩm dư thừa và cũng do vậy mà không có khả năng chiếm đoạt sản phẩm dư thừa làm của riêng. Trong thị tộc không ai có tài sản riêng, không có người giàu kẻ nghèo, không có tình trạng người này chiếm đoạt tài sản và bóc lột người kia. Trong thị tộc, đã có sự phân công lao động nhưng đó là sự phân công tự nhiên giữa các thành viên thích hợp khác nhau chứ không phải là sự phân công lao động xã hội xuất phát từ địa vị khác nhau của con người trong sản xuất và đời sống.

Sự bình quân trong kinh tế là cơ sở cho sự bình đẳng về xã hội trong thị tộc. Thị tộc là hình thức tự quản đầu tiên, ở mức độ thấp. Để tổ chức và điều hành hoạt động xã hội, thị tộc cũng đã cần đến quyền lực và một hệ thống quản lý thực hiện quyền lực, tuy còn đơn giản. Hệ thống đó bao gồm:

- Hội đồng thị tộc: bao gồm tất cả những thành viên đã trưởng thành của thị tộc. Hội đồng thị tộc là tổ chức quyền lực cao nhất của thị tộc, có quyền bàn bạc dân chủ và đưa ra những quyết định tập thể về tất cả những vấn đề quan trọng có liên quan đến thị tộc. Quyết định của thị tộc thể hiện ý chí của toàn bộ thành viên nên được mọi người tự giác chấp hành. Trong trường hợp có cá nhân không thực hiện thì cá nhân đó phải chịu sự cưỡng chế của tập thể thị tộc.

- Tù trưởng và thủ lĩnh quân sự: là những người đứng đầu thị tộc, do hội nghị toàn thể thị tộc bầu ra trong số những người nhiều tuổi, nhiều kinh nghiệm và có uy tín nhất trong cộng đồng. Về nguyên tắc, Tù trưởng và thủ lĩnh quan sự không có một đặc quyền riêng nào. Tù trưởng và thủ lĩnh quân sự có quyền điều hành các công việc của thị tộc theo quyết nghị của Hội đồng thị tộc nhưng tính chất bắt buộc trong hoạt động điều hành đó không dựa vào một cơ quan cưỡng chế riêng biệt nào mà dựa trên cơ sở uy tín cá nhân, sự tín nhiệm và ủng hộ của tất cả các thành viên thị tộc. Tù trưởng phải chịu sự kiểm tra của cộng đồng và có thể bị bãi miễn nếu như không được cộng đồng thị tộc tín nhiệm và ủng hộ nữa.

 

2.2. Thời đại kim khí

Sự phát hiện ra kim loại để nhằm mục đích có thể làm công cụ lao động trong xã hội công xã nguyên thủy có ý nghĩa hết sức to lớn. Trước kia, ở giai đoạn trước mỗi con người chỉ biết sử dụng đá, gỗ để làm công cụ. Cho khoảng 4000 năm Trước công nguyên, con người đã phát hiện ra đồng kim loại. Đồng kim loại có tính chất rất mềm, nên con người sẽ chủ yếu dùng làm đồ trang sức. Sau đó, con người cũng đã biết pha đồng với thiếc và chì cho đồng cứng hơn gọi là đồng thau.

Từ đó, người ta đã đúc ra được các loại công cụ khác như: rìu, cuốc, thương giáo, lao, mũi tên, trống đồng và nhiều loại khác. 

>> Tham khảo: Cuối thời nguyên thủy ở Việt Nam con người sống như thế nào?

 

3. Sự tan rã của công xã nguyên thủy

Những chuyển biến quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội bắt đầu diễn ra khi kim loại tham gia vào thế giới gỗ, đá của người nguyên thủy. Dưới tác động của công cụ kim loại, khả năng lao động của con người phát triển nhanh chóng, năng suất lao động không ngừng tăng lên, lực lượng sản xuất có những bước tiến rõ rệt khiến cho hoạt động kinh tế xã hội ngày càng đa dạng và phong phú, đòi hỏi phải có sự phân công lao động theo hướng chuyên môn hóa. Ở vào thời kỳ cuối của chế độ công xã nguyên thủy đã lần lượt xảy ra ba lần phân công lao động lớn: 1) Chăn nuôi tách khỏi trồng trọt; 2) Thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp; 3) Buôn bán phát triển và thương nghiệp xuất hiện.

Cũng chính bởi vì sự xuất hiện của công cụ lao động mới nên chế độ làm chung, ăn chung, hưởng chung ở thời kỳ công xã thị tộc bị phá vỡ. 

Nhờ có phân công lao động nên năng suất lao động và sản phẩm xã hội tăng lên nhanh chóng, từ đó xuất hiện sản phẩm dư thừa và làm phát sinh khả năng chiếm đoạt sản phẩm dư thừa đó. Lợi dụng ưu thế của mình, những người có địa vị trong cộng đồng thị tộc - bộ lạc đã chiếm đoạt sản phẩm dư thừa của tập thể, dẫn đến hệ quả là tư hữu xuất hiện.

Từ những nguyên nhân đó, xã hội nguyên thủy dần tan ra, nhường chỗ cho xã hội giai cấp. Xem thêm: Thế nào là bầy người nguyên thủy?

Như vậy, Luật Minh Khuê đã cung cấp cho bạn đọc toàn bộ những thông tin xoay quanh vấn đề công xã nguyên thủy là gì? Bên cạnh đó, chúng tôi đã trình bày sơ lược quá trình hình thành cũng như kết thúc của công xã nguyên thủy. Hy vọng rằng thông qua những thông tin mà chúng tôi cung cấp thì các bạn đã có thêm thông tin hữu ích về vấn đề trên. Nếu còn vấn đề gì thắc mắc về công xã nguyên thủy hoặc những vấn đề liên quan đến pháp luật thì các bạn vui lòng liên hệ đến tổng đài tư vấn trực tuyến thông qua hotline 1900.6162 để được hỗ trợ và giải đáp sớm nhất.