- 1. Vai trò của lao động đối với sự phát triển của người nguyên thủy
- 2. Các giai đoạn của xã hội nguyên thủy
- 2.1 Giai đoạn thị tộc, bộ lạc
- 2.2 Giai đoạn của thời đại kim khí
- 2.3 Giai đoạn xã hội nguyên thủy tan tã
- 3. Xã hội nguyên thủy tan rã như thế nào?
- 4. Những cải tiến vượt bậc trong lao động và đời sống của người nguyên thủy.
- 4.1 Trong lao động
- 4.2 Trong đời sống
- 5. Xã hội nguyên thủy ở Việt Nam
- 6. Những nền văn hóa lớn cuối thời nguyên thuỷ ở Việt Nam
- 6.1 Từ Phùng Nguyên (văn hóa đồ đồng) đến văn hóa Đông Sơn (sơ kỳ sắt) ở miền Bắc
- 6.2 Từ Bình Châu (văn hóa đồ đồng) đến Sa Huỳnh (sơ kỳ sắt) ở miền Trung
- 6.3 Từ Dốc Chùa (văn hóa đồ đồng) đến Cần Giờ (sơ kỳ sắt - văn hóa tiền Óc Eo) ở miền Nam
1. Vai trò của lao động đối với sự phát triển của người nguyên thủy
Lao động giúp cơ thể và tư duy của con người ngày càng phát triển hoàn thiện. Ví dụ:
- Nhờ có quá trình lao động, tìm kiếm thức ăn, sản xuất của cải, vật chất mà đôi bàn tay của con người cũng dần trở nên khéo léo, cơ thể cũng dần biến đổi để có thể phù hợp với các tư thế lao động giúp con người từng bước cải thiện mình và cuộc sống của chính mình → Phát triển về cơ thể.
- Khi đã biết lao động rồi, con người luôn luôn có tham vọng tìm cách để cải tiến công cụ lao động từ đó tăng năng suất, sản xuất ra nhiều của cải, vật chất hơn. Từ rìu đá, con người đã biết làm thành lưỡi cuốc, búa rìu và đồ dùng bằng gốm để phục vụ sản xuất và sinh hoạt dễ dàng hơn. Từ việc chỉ biết săn bắt, hái lượm, con người dần dần biết cách chăn nuôi và trồng trọt để gia tăng sản xuất. Từ đó giúp con người tự tạo ra được lương thực, thức ăn cần thiết để đảm bảo cuộc sống của mình → Cũng góp phần kích thích sự phát triển của tư duy sáng tạo của con người khi mà luôn phải tìm cách để cải tiến công cụ lao động, tăng năng suất lao động.
2. Các giai đoạn của xã hội nguyên thủy
Xã hội nguyên thủy trải qua 3 giai đoạn chính:
2.1 Giai đoạn thị tộc, bộ lạc
Đây là giai đoạn con người dần tiến hóa từ vượn người cổ thành người tinh khôn. Dần dần dân số được tăng lên và họ sống với nhau hình thành thị tộc và bộ lạc.
- Thị tộc: là những nhóm người sống chung với nhau. Họ đều là những người có cùng huyết thống. Trong thị tộc, không phân biệt tư hữu cá nhân, họ cùng nhau săn bắn và hưởng thụ thành quả.
- Bộ lạc: là nhiều thị tộc sống cùng với nhau trên một vùng rộng lớn. Các thị tộc trong bộ lạc có họ hàng gần gũi, quen thuộc vì họ có chung nguồn gốc tổ tiên với nhau, giúp đỡ nhau trong sinh hoạt
2.2 Giai đoạn của thời đại kim khí
Giai đoạn này đánh dấu cho sự ra đời của công cụ lao động bằng kim loại. Họ biết pha đồng với thiếc, chì, nhôm để trở thành hợp chất đồng thau. Từ đó họ chế tạo ra các công cụ như cuốc, rìu, lưỡi cày. Giai đoạn này đã mở ra cho một thời kỳ mới, tiến bộ hơn thời kỳ đồ đá. Làm cho lao động sản xuất được cải thiện, sản xuất được nhiều hơn.

2.3 Giai đoạn xã hội nguyên thủy tan tã
Xã hội nguyên thủy tan rã vào thiên niên kỷ thứ IV TCN. Thời điểm này, con người bắt đầu khai phá ra kim loại và đã tìm ra được cách chế tạo kim loại ứng dụng vào cuộc sống như sử dụng chúng để làm công cụ lao động. Lúc này, khi năng suất lao động tăng lên, của cải, lương thực dư thừa thì đó chính là nguyên nhân phân chia giai cấp, phân biệt giàu nghèo, tầng lớp xã hội xuất hiện.
3. Xã hội nguyên thủy tan rã như thế nào?
Bầy người nguyên thuỷ có đặc điểm là một nhóm gồm 5 - 7 gia đình sống chụm lại với nhau. Khi sinh sống, họ sẽ cử ra một người đứng đầu, gọi là lãnh đạo, người này có nhiệm vụ tập hợp và chỉ huy các thành viên khác.
Trong xã hội nguyên thủy, con người đã bước đầu có sự phân chia công việc theo giới tính nam nữ khác nhau. Trong đó quy định rõ, người nam sẽ làm những nhiệm vụ có tính chất nặng nhọc hơn như săn thú, kiếm tìm thức ăn trong rừng hoặc dưới biển. Nữ có nhiệm vụ hái lượm, chăm nom con cái.
Trong xã hội nguyên thủy, tinh thần chung của con người chính là sống đoàn kết, yêu thương và bảo vệ lẫn nhau để cùng chống lại thú dữ, thiên tai.
Sự xuất hiện của người tinh khôn dẫn tới nguyên nhân vì sao xã hội nguyên thủy tan rã.
- Sự phân chia gia đình rạch ròi, cụ thể hơn.
- Bớt phụ thuộc vào tự nhiên.
- Chất lượng đời sống được cải thiện
Lúc này, sẽ dẫn đến việc mâu thuẫn do phân chia của cải không đều, từ đó khiến cho xã hội nguyên thủy bị tan rã.
4. Những cải tiến vượt bậc trong lao động và đời sống của người nguyên thủy.
4.1 Trong lao động
- Cách đây khoảng 4 triệu năm, Vượn cổ đã có bước chuyển hóa thành Người tối cổ, từ chỗ sử dụng những mảnh đá có sẵn từ thiên nhiên để chế tác thành công cụ, Người tối cổ đã biết lấy những mảnh đá hay hòn cuội lớn, đem ghè một mặt cho sắc, vừa tay cầm. Như vậy, họ đã bắt đầu biết chế tác công cụ (rìu đá, chặt cây làm gậy để săn thú...), từ đó gia tăng năng suất, sản xuất nhiều của cải, vật chất hơn, đảm bảo cho cuộc sống đầy đủ của con người.
- Cách đây khoảng 4 vạn năm, Người tối cổ lại có bước chuyển hóa cao hơn thành Người tinh khôn (hay có tên gọi khác là người hiện đại). Họ đã biết ghè 2 rìu của một mảnh đất làm cho công cụ gọn và sắc hơn (rìu, dao, nạo,..) lấy xương cá, cành cây mài và đẽo nhọn làm dao. Biết chế tạo thành công cung tên là một thành tựu lớn đã đạt được trong lịch sử quá trình chế tạo công cụ và vũ khí.
- Cách đây khoảng 1 vạn năm, loài người bước vào một kỷ nguyên mới - một cuộc cách mạng. Nhiều công cụ lao động được chế tác rất đa dạng và hữu dụng với trình độ và kỹ thuật cao hơn trước (mài, khoan, cưa), công cụ có lỗ hoặc nấc để tra cán. Giúp những của cải và vật chất mà con người làm ra đã đạt được đến một mức độ nhất định, cuộc sống của con người đảm bảo được nhu cầu về lợi ích vật chất và tinh thần.
4.2 Trong đời sống
- Từ hái lượm, săn bắt, Người nguyên thủy chuyển sang sản xuất và trồng trọt, cùng với sự tiến bộ vượt bậc về công cụ lao động, biết cách gia tăng năng suất.
- Tìm ra cách chế tạo lửa và biết lấy lửa để sưởi ấm cơ thể, nướng chín thức ăn.
- Rời bỏ hang động, làm và cư trú ở trong "nhà cửa" trở nên phổ biến.
- Con người biết sự nhạy cảm của bản thân mình, biết làm sạch những tấm da thú để che thân, có khuy cài cho khỏi tuột.
- Làm trang sức, chế tác nhạc cụ để phục vụ đời sống tinh thần.
Những bước chuyển biến trên khiến cho cuộc sống của Người nguyên thủy no đủ hơn, đẹp đẽ hơn, vui vẻ hơn và bớt lệ thuộc vào thiên nhiên hơn.
5. Xã hội nguyên thủy ở Việt Nam
Xã hội nguyên thủy ở Việt Nam đã trải qua những giai đoạn theo từng móc thời gian khác nhau. Theo đó, xã hội nguyên thủy có sự phân hóa rõ rệt. Cụ thể:
Cách ngày nay khoảng 30 - 40 vạn năm, nước ta đã có Người tối cổ sinh sống. Địa điểm phát hiện những dấu tích của người tinh khôn ở Việt Nam gồm có Hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai (Lạng Sơn), núi Đọ, Quan Yên (Thanh Hóa, Xuân Lộc (Đồng Nai),...Ở thời kỳ này, những công cụ sản xuất được ghè đẽo thô sơ và không có hình thù rõ ràng.
Giai đoạn tiếp theo là Người tinh khôn cách thời gian trên khoảng 2 vạn năm, Người tối cổ đã chuyển hóa thành Người tinh khôn và công xã thị tộc được hình thành. Địa điểm phát hiện Người tinh khôn gồm có Mai đá Ngườm (Thái Nguyên), Sơn Vi (Phú Thọ) và nhiều nơi khác thuộc Sơn La, Bắc Giang, Thanh Hóa, Nghệ An,...Khác với trước, Công cụ sản xuất ở thời điểm này gồm có: Rìu bằng hong cuội, được ghè đẽo thô sơ, có hình thù rõ ràng.
Cách ngày nay khoảng 6000 - 12000 năm, công xã thị tộc bước vào thời kỳ phát triển. Ngoài ra, cách ngày nay khoảng 3000 - 4000 năm, các công cụ bằng đồng xuất hiện, công xã thị tộc bước vào giai đoạn tan rã.
6. Những nền văn hóa lớn cuối thời nguyên thuỷ ở Việt Nam
6.1 Từ Phùng Nguyên (văn hóa đồ đồng) đến văn hóa Đông Sơn (sơ kỳ sắt) ở miền Bắc
Đầu thiên niên kỷ thứ II trước Công nguyên, các bộ lạc sống ở vùng lưu vực sông Hồng đã đưa kỹ thuật chế tác đá lên đỉnh cao, đồng thời biết sử dụng hợp kim đồng và thuật luyện kim để chế tạo công cụ. Đó là chủ nhân của văn hóa Phùng Nguyên, mở đầu cho sơ kỳ thời đại đồng thau ở Việt Nam, chuyển dần lên văn hóa Đông Sơn.
Các di tích văn hóa Phùng Nguyên được phát hiện ở nhiều nơi thuộc vùng Bắc Bộ như Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Tây, Hà Nội, Hải Phòng,... Các bộ lạc Phùng Nguyên là cư dân nông nghiệp trồng lúa, sống định cư lâu dài trong các công xã thị tộc. Công cụ lao động chủ yếu vẫn bằng đá. Họ làm gốm bằng bàn xoay với những đồ án trang trí hài hòa và biết sử dụng một số nguyên liệu khác như tre, gỗ, nứa, xương để làm đồ dùng; biết xe chỉ, dệt vải và chăn nuôi gia súc như trâu, bò, lợn, gà, chó,...
Đời sống tinh thần của cư dân Phùng Nguyên khá phong phú, biểu hiện một trình độ thẩm mĩ khá cao. Các công cụ đá được mài nhẵn rất đẹp. Đồ gốm được trang trí hoa văn nhiều kiểu duyên dáng. Đồ trang sức có nhiều loại, nhiều kích thước khác nhau bằng đá, sừng, xương, vỏ ốc, vỏ sò được mài, khoan tiện tinh tế (vòng tay, hạt chuỗi, khuyên tai,...). Tục chôn người chết nơi cư trú, chôn theo công cụ lao động và các vật dụng khác cũng rất phổ biến ở cư dân Phùng Nguyên.
Cùng với các bộ lạc Phùng Nguyên ở lưu vực sông Hồng, còn các bộ lạc khác ở nhiều khu vực trên đất nước ta cũng đã tiến đến thời đại đồ đồng.
Các bộ lạc sống ở vùng châu thổ sông Mã (Thanh Hóa), chủ nhân của nền văn hóa Hoa Lộc và các bộ lạc ở vùng lưu sông Lam là cư dân của một nền nông nghiệp dùng cuốc đá phát triển. Nghề nông giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động kinh tế. Các nghề thủ công làm đá, gồm đạt đến trình độ khá cao, tương đồng với cư dân Phùng Nguyên. Trong các di tích văn hóa Hoa Lộc, bên cạnh những công cụ, hiện vật bằng đá, gốm (như rìu đá có vai, cuốc đá có chuôi để tra cán, những đồ gốm có các hoa văn), còn có một số hiện vật bằng đồng (như dùi đồng, dây đồng).
6.2 Từ Bình Châu (văn hóa đồ đồng) đến Sa Huỳnh (sơ kỳ sắt) ở miền Trung
Cách ngày nay khoảng 3000 - 4000 năm, ở vùng Nam Trung Bộ, các bộ lạc Bình Châu, Long Thạnh,...chủ nhân của văn hóa tiền Sa Huynh cũng đã tiến đến sơ kỳ thời đại đồng thay, biết đến kỹ thuật luyện kim.
Các di tích văn hóa Sa Huỳnh được phát hiện ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa.
Hoạt động kinh tế chủ yếu của cư dân Sa Huỳnh là nông nghiệp trồng lúa và các cây trồng khác. Ngoài ra, họ còn làm đồ gốm, dệt vải, rèn sắt và làm đồ trang sức bằng đá, đồng, thủy tinh (chuỗi hạt, khuyên tai,...)
Cư dân văn hóa Sa Huỳnh thường thiêu xác chết, đổ tro xương vào các vò bằng đất nung đem chôn cùng với các đồ trang sức.
6.3 Từ Dốc Chùa (văn hóa đồ đồng) đến Cần Giờ (sơ kỳ sắt - văn hóa tiền Óc Eo) ở miền Nam
Ở các tỉnh miền Nam cũng đã phát hiện một số di tích văn hóa đồ đồng như Dốc Chùa, Bình Đa, Cầu Sắt,...được gọi chung là văn hóa sông Đồng Nai. Đây là một trong những cội nguồn hình thành văn hóa Óc Eo.
Các di tích văn hóa sông Đồng Nai thuộc vùng Đông Nam Bộ được phân bổ ở các tỉnh: Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Long An, Thành phố Hồ Chí Minh...Các di tích văn hóa Óc Eo ở vùng Tây Nam Bộ thuộc các tỉnh: An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ...
Cư dân văn hóa sông Đồng Nai làm nghề nông trồng lúa nước và trồng các cây lương thực khác. Ngoài ra, họ còn làm nghề khai thác sản vật rừng, săn bắn, làm nghề thủ công. Bên cạnh các công cụ bằng đá là chủ yếu, còn có một số hiện vật bằng đồng, sắt, vàng, thủy tinh.
Cư dân văn hóa Cần Giờ còn đánh bắt hải sản và mở rộng quan hệ giao lưu với bên ngoài, góp phần chuẩn bị cho sự xuất hiện văn hóa Óc Eo của cảng thị trấn cổ ở miền Nam.
Tóm lại, cách ngày nay khoảng 3000 - 4000 năm đã hình thành những nền văn hóa lớn, phân bố ở các khu vực khác nhau, làm tiền đề cho xã hội nguyên thủy chuyển biến sang giai đoạn cao hơn.
Vừa rồi Luật Minh Khuê đã trình bày nội dung về Lao động có vai trò như thế nào trong việc làm thay đổi con người và cuộc sống của người nguyên thủy? Hy vọng đây sẽ là những thông tin hữu ích đối với quý bạn đọc. Xin chân thành cảm ơn!