Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900 6162

1. Covid-19 là sự kiện bất khả kháng?

Khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 quy định: “Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”. Tuy nhiên, BLDS 2015 không liệt kê cụ thể các sự kiện bất khả kháng, mà vấn đề này thường được quy định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành.

Chẳng hạn, trong lĩnh vực xây dựng, sự kiện bất khả kháng được quy định gồm: Thiên tai, sự cố môi trường, địch họa, hỏa hoạn và các yếu tố bất khả kháng khác. Trong hoạt động tư vấn, thi công xây dựng, bất khả kháng còn bao gồm các sự kiện như gặp hang caster, cổ vật, khảo cổ, túi bùn mà khi ký hợp đồng các bên chưa lường hết được trong quá trình tư vấn, thi công xây dựng. (Điều 51 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ; Điều 16 Thông tư 08/2016/TT-BXD ngày 10/3/2016; Điều 10 Thông tư 09/2016/TT-BXD ngày 10/3/2016 của Bộ Xây dựng).

Ngoài ra, các sự kiện bất khả kháng còn được các bên định nghĩa và liệt kê tại hợp đồng. Tùy tính chất từng loại hợp đồng mà phạm vi sự kiện bất khả kháng có thể được liệt kê rộng, hẹp khác nhau. Trong điều khoản về bất khả kháng tại hầu hết các hợp đồng hiện nay, cụm từ “dịch bệnh” thường được liệt kê là một trong các sự kiện bất khả kháng. Vậy loại dịch bệnh như thế nào và đến mức độ nào thì mới được coi là sự kiện bất khả kháng? Tình trạng dịch Covid-19 hiện nay đã được coi là sự kiện bất khả kháng hay chưa?

Đối chiếu quy định tại khoản 1 Điều 156 BLDS 2015 thì dịch Covid-19 đã có đủ 3 yếu tố để được xem xét là một sự kiện bất khả kháng:

(i) Xảy ra một cách khách quan;

(ii) các bên không thể lường trước được

(iii) không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.

Tuy nhiên, việc xác định liệu Covid-19 có dẫn đến hệ quả bên bị ảnh hưởng không thực hiện được đúng nghĩa vụ quy định trong hợp đồng hay không cần được đặt trong bối cảnh cụ thể của từng hợp đồng.

2.Covid 19 và vấn đề miễn trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng vay 

Trong bối cảnh của hợp đồng vay, một trong các nghĩa vụ cơ bản của các bên trong hợp đồng là nghĩa vụ thanh toán. Cụ thể, bên cho vay có nghĩa vụ giải ngân và bên vay có nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, nợ lãi và các khoản thanh toán khác. Câu hỏi được đặt ra là liệu Covid-19 có thể coi là một sự kiện bất khả kháng để miễn trừ nghĩa vụ giải ngân của bên cho vay và nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, nợ lãi và các khoản thanh toán khác của bên vay hay không. Dựa trên quy định của pháp luật, thông lệ thị trường và cơ sở thỏa thuận trong hợp đồng vay, khó có thể coi Covid-19 là sự kiện bất khả kháng trong trường hợp này khi Covid-19 không là nguyên nhân trực tiếp làm bên cho vay không thể thực hiện nghĩa vụ giải ngân hay bên vay không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, nợ lãi và các khoản thanh toán khác.

Trên thực tế, hợp đồng vay thường không quy định về sự kiện bất khả kháng. Nhìn từ góc độ pháp luật về hợp đồng, việc có hay không quy định về sự kiện bất khả kháng không quan trọng, quy định về sự kiện bất khả kháng mặc nhiên áp dụng cho dù các bên có thỏa thuận về sự kiện bất khả kháng hay không.

Mặc dù vậy, cơ sở để các bên giao kết hợp đồng vay thường dựa trên giả định không áp dụng sự kiện bất khả kháng cho hợp đồng vay trừ khi sự kiện bất khả kháng đó là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc hợp đồng không thể thực hiện được. Nghĩa vụ giải ngân và thanh toán theo hợp đồng vay là các nghĩa vụ có tính chất tuyệt đối và không thể giải trừ vì khó khăn về tài chính của một bên. Phần lớn các sự kiện bất khả kháng có thể gây ra khó khăn về tài chính cho các bên trong hợp đồng vay nhưng khó có thể lập luận là một trở ngại trực tiếp dẫn đến các bên không thể thực hiện hợp đồng. Do vậy, trong bối cảnh của hợp đồng vay, khó có thể coi Covid-19 là một sự kiện bất khả kháng nhằm miễn trách nhiệm dân sự cho các bên trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Việc loại trừ không áp dụng quy định về sự kiện bất khả kháng đối với nghĩa vụ thanh toán lãi (và có lẽ áp dụng đối với nghĩa vụ thanh toán nói chung) của các bên trong hợp đồng thương mại là một thông lệ được chấp nhận trong Bộ quy tắc về Hợp đồng thương mại quốc tế (UNIDROIT), đặc biệt là ở Hoa Kỳ.

Chúng tôi cho rằng, về cơ bản, chỉ những sự kiện liên quan trực tiếp dẫn đến các bên không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán như hệ thống thanh toán qua ngân hàng không hoạt động hoặc quy định ngoại hối hạn chế thanh toán theo hợp đồng vay mới có thể coi là sự kiện bất khả kháng liên quan đến nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng vay. Tuy nhiên, trên thực tế, các sự kiện này cũng thường không được quy định là sự kiện bất khả kháng trong hợp đồng vay. Hợp đồng vay thường quy định cụ thể cho phép bên cho vay ngừng giải ngân hoặc yêu cầu thanh toán trước hạn hoặc trong một số trường hợp là một sự kiện giải trừ nghĩa vụ thanh toán của bên vay. Đây thường là quy định về các điều kiện tiên quyết cho việc giải ngân, thanh toán khoản vay trước hạn và sự kiện vi phạm. Các quy định này phân bố rủi ro giữa bên cho vay và bên vay khi xảy ra các sự kiện trên và các sự kiện này không được coi là sự kiện bất khả kháng.

Covid-19 đặt ra các vấn đề thực tế trong việc áp dụng sự kiện bất khả kháng trong bối cảnh của hợp đồng thương mại nói chung, trong đó có hợp đồng vay. Đối với việc thực hiện hợp đồng vay, khi nghĩa vụ thanh toán là nghĩa vụ cơ bản của hợp đồng, các bên thường không chấp nhận việc bên cho vay hoặc bên vay đưa ra những lý do gián tiếp như khó khăn về tài chính nhằm thoái thác trách nhiệm thực hiện hợp đồng của mình. Covid-19 có thể là một nguyên nhân gián tiếp dẫn đến việc hợp đồng vay không thể thực hiện được do các bên có khó khăn về tài chính nhưng khó có thể được coi là một sự kiện bất khả kháng nhằm miễn trách nhiệm dân sự cho các bên trong hợp đồng.

Trên quan điểm tiếp cận an toàn, các bên theo hợp đồng vay có thể thỏa thuận loại trừ việc áp dụng các quy định về sự kiện bất khả kháng theo pháp luật về hợp đồng để bảo đảm chắc chắn sự phân bố rủi ro trong hợp đồng vay được tôn trọng. Mặc dù vậy, ngay cả khi hợp đồng vay không có thỏa thuận loại trừ này, rất khó có cơ sở để cho rằng Covid-19 là sự kiện bất khả kháng miễn trừ nghĩa vụ giải ngân và thanh toán theo hợp đồng vay

3. Một số lỗi phổ biến khi dựa vào các sự kiện bất khả kháng để từ chối trách nhiệm pháp lý

Dịch Covid-19 có thể có tác động theo nhiều cách đến các giao dịch thương mại và việc thương nhân thực hiện các nghĩa vụ của họ. Sản xuất hàng hóa có thể bị đình trệ nếu nhà máy hoạt động trong khu vực cách ly; vận chuyển hàng có thể bị hủy hoặc bị trì hoãn do các hạn chế xuất nhập khẩu mà chính phủ áp đặt; và các hợp đồng dịch vụ bị ảnh hưởng bởi việc những cá nhân liên quan bị hạn chế đi công tác, hoặc nghiêm trọng hơn, họ bị nhiễm virus và bị cách ly.

Một trong những vụ việc gần đây nhất được xác định ở Singapore liên quan đến một người từng phục vụ trên tàu chở hàng. Con tàu sau đó bị cách ly tại nơi neo đậu và đi qua quá trình khử trùng. Điều này có thể ảnh hưởng đến thời gian giao hàng của hàng hóa trên con tàu đó.

Một bên khi không thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ của mình do sự kiện bất khả kháng có thể không phải chịu trách nhiệm đối với bên bị vi phạm và trong một số trường hợp, khi sự kiện bất khả kháng kéo dài và nghĩa vụ bị vi phạm là nghĩa vụ cơ bản, bên vi phạm có thể chấm dứt hợp đồng trên cơ sở sự kiện bất khả kháng, mà không phải chịu trách nhiệm cho bất kỳ tổn thất và thiệt hại nào của bên bị vi phạm. Nghĩa vụ chứng minh cho sự kiện bất khả kháng thuộc về bên muốn dựa vào sự kiện bất khả kháng để tránh trách nhiệm pháp lý.

3.1 Cơ quan có thẩm quyền thực hiện các biện pháp nhằm hạn chế bùng phát dịch

Hiện nay mọi người đều đã biết về sự bùng phát dịch và các cơ quan có thẩm quyền đã thực hiện các biện pháp nhằm hạn chế, kiểm soát và loại bỏ dịch bệnh này. Do đó, các bên tham gia hợp đồng sau khi dịch bệnh này bùng phát đã thấy trước tác động tiềm tàng của nó đối với khả năng thực hiện nghĩa vụ của họ và cần áp dụng các biện pháp phòng ngừa để vượt qua.

3.2 Sự cản trở không được xuất phát từ hành vi VPPL của bên vi phạm

Sự cản trở không được xuất phát từ hành vi vi phạm pháp luật của bên vi phạm. Nhiều hợp đồng cũng đề cập đến điều kiện này trong phần định nghĩa về sự kiện bất khả kháng. Một bên không thể vi phạm luật và sau đó lấy hậu quả của nó làm lý do cho sự kiện bất khả kháng.

Thứ ba, bên bị ảnh hưởng phải tuân thủ các quy định của hợp đồng đã thỏa thuận, nếu có. Ví dụ, thông báo phải được đưa ra trong một thời gian hợp lý hoặc thời hạn do các bên quy định, để thông báo cho bên kia rằng sự kiện bất khả kháng liên quan đến COVID-19 đã xảy ra và cản trở bên có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng.

Việt Nam cũng là thành viên của Công ước Viên về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG). Công ước này sẽ áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các doanh nghiệp từ các nước thành viên của CISG, hoặc nếu các bên chọn pháp luật Việt Nam làm luật áp dụng.

CISG chưa bao giờ sử dụng thuật ngữ “sự kiện bất khả kháng” – thay vào đó, CISG quy định trong Điều 79.1 rằng “Một bên không chịu trách nhiệm về việc không thực hiện bất kỳ nghĩa vụ nào của mình nếu anh ta chứng minh rằng việc không thực hiện nghĩa vụ đó là do sự cản trở ngoài tầm kiểm soát của anh ta và rằng anh ta không thể được trông đợi một cách hợp lý là đã lường trước các trở ngại này tại thời điểm ký kết hợp đồng hoặc đã tránh hoặc khắc phục nó hoặc hậu quả của nó”.

Trên thực tế, đây là một tiêu chuẩn rất cao, có nghĩa rằng chỉ những trở ngại làm cho việc thực hiện nghĩa vụ là không thể mới thỏa mãn tiêu chuẩn này, các trường hợp khác nếu chỉ làm cho việc thực hiện nghĩa vụ khó khăn hoặc không kinh tế sẽ không giúp bên bị ảnh hưởng thoát khỏi trách nhiệm.

Trong bối cảnh dịch Covid-19, một bên sẽ không thể viện dẫn sự kiện bất khả kháng để tránh thực hiện nghĩa vụ, chẳng hạn như khi một cảng bị đóng để cách ly, nhưng hàng hóa vẫn có thể được vận chuyển qua các cảng khác, mặc dù với chi phí cao hơn.

4.Các biện pháp cần thực hiện đối mặt với các trở ngại khi thực hiện hợp đồng do dịch Covid 19

Thứ nhất, đánh giá tác động của dịch đối với việc thực hiện hợp đồng, và xác định xem liệu các điều khoản về sự kiện bất khả kháng có được áp dụng hay không, và liệu có nên tiến hành đình chỉ, chấm dứt hoặc sửa đổi hợp đồng. Tiếp theo, doanh nghiệp nên thông báo cho bên kia về sự kiện và yêu cầu xác nhận.

Thứ hai, các doanh nghiệp nên tiến hành ngay lập tức các biện pháp hiệu quả để giảm thiểu thiệt hại. Các doanh nghiệp cũng cần để ý tới quyền lợi của bên kia nếu bên đó viện dẫn sự kiện bất khả kháng, đó là quyền chấm dứt hợp đồng sau một thời gian nhất định, sau đó bán hàng hóa cho bên mua khác, hoặc trong trường hợp là bên mua, mua hàng hóa từ các nhà cung cấp khác.

Cuối cùng, các doanh nghiệp nên chú ý tới diễn biến của dịch bệnh hiện nay và tác động của nó đối với bất kỳ nghĩa vụ nào đã cam kết, và soạn thảo các điều khoản rõ ràng trong hợp đồng để hạn chế trách nhiệm liên quan đến các nghĩa vụ này.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập