1. Nếu cưỡng hôn người khác có phải là hành vi quấy rối tình dục hay không?
Hiện nay thì tình trạng mà cưỡng hôn người khác đang dần dần trở nên phổ biến hơn bao giờ hết. Các tình trạng mà cưỡng hôn người trên phố, trong môi trường làm việc hoặc là ở bất kỳ một địa điểm nào đều trở nên phổ biến hơn. Vậy thì hành vi cưỡng hôn người khác có phải là hành vi quấy rối tình dục hay không?
Quấy rối tình dục thì có thể được hiểu là hành vi có tính chất tình dục của bất kỳ người nào mà chưa được sự chấp thuận làm gây ảnh hưởng tới nhân phẩm của nữ giới và nam giới, được thể hiện thông qua nhiều hình thức như: hành động, lời nói, hình ảnh,...và có thể xảy ra ở bất cứ đâu như: nơi công cộng, nơi làm việc hoặc thậm chí là trên các phương tiện xã hội.
Như vậy thì cưỡng hôn người khác thì có thể được hiểu là hành vi quấy rối tình dục người khác. Bởi hành vi này người thực hiện hành vi không được sự chấp thuận của người khác và ảnh hưởng tới người và hành vi này được thực hiện thông qua hành động.
2. Xử phạt hành chính đối với hành vi cưỡng hôn người khác
Đối với hành vi cưỡng hôn người khác theo quy định tại Điều 7 của Nghị định 144/2021/NĐ-CP có quy định như sau về hành vi quấy rối tình dục cụ thể:
- Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi: khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm, lăng mạ, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của người khác, trừ các trường hợp sau đây:
+ Có lời nói, hành động đe dọa, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người thi hành công vụ;
+ Hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thành viên gia đình quy định tại Điều 54 Nghị định 144/2021/NĐ-CP
- Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sàm sỡ, quấy rối tình dục; Khiêu dâm, kích dục ở nơi công cộng;
Bên cạnh đó thì đối với hành vi quấy rối tình dục còn chịu biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc xin lỗi công khai trừ trường hợp nạn nhân có đơn không yêu cầu.
Như vậy thì đối với hành vi cưỡng hôn người khác thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính từ 2.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng tùy mức độ hành vi và buộc phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
Tuy nhiên thì hành vi mà cưỡng hôn người khác còn cần phải xác định đến yếu tố là thực hiện hành vi cưỡng hôn tại đâu. Nếu như thực hiện hành vi cưỡng hôn người khác tại nơi làm việc thì có thể coi là hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Cụ thể:
Hành vi quấy rối tình dục nơi làm việc được quy định rất cụ thể tại khoản 9 Điều 3 Bộ luật lao động 2019: là hành vi có tính chất tình dục của bất kỳ người nào đối với người khác tại nơi làm việc mà không được người đó mong muốn hoặc chấp nhận. Nơi làm việc là bất kỳ nơi nào mà người lao động thực tế làm việc theo thỏa thuận hoặc phân công của người sử dụng lao động.Tại khoản 3 Điều 11 Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định: Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
3. Xử lý hình sự đối với hành vi cưỡng hôn người khác
Tuy nhiên thì ngoài việc sử phạt hành chính thì hành vi cưỡng hôn người khác còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội làm nhục người khác theo quy định tại Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015.
Mặt khách quan là một trong bốn yếu tố cấu thành tội làm nhục người khác. Mặt khách quan của tội này được thể hiện qua hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác dưới hình thức sau:
+ Thể hiện bằng lời nói: Như sỉ nhục, thóa mạ, chửi bới một cách thô bỉ, tục tĩu…nhằm vào nhân cách, danh dự, với tính chất là hạ thấp nhân cách, danh dự của người bị hại, đồng thời làm cho người bị hại cảm thấy xấu hổ, nhục nhã trước những người khác.
+ Thể hiện bằng việc làm: Như có những hành vi lột trần truồng nạn nhân, nhổ nước bọt vào mặt, ném phân, cà chua, trứng thối vào người, xe cộ...(có hoặc không kèm theo lời nói thô tục) với chính bản thân mình hoặc người bị hại trước đám đông để bêu rếu.
Điểm đặc trưng của tội làm nhục người khác đó là thường diễn ra một cách công khai, trực tiếp và trước nhiều người.
Theo quy định tại Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 thì có quy định về mức xử phạt đối với hành vi làm nhục người khác như sau:
- Khung 1: Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 30 triệu đồng hoặc là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
- Khung 2: Phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm đối với hành vi phạm tội 02 lần trở lên, đối với 02 người trở lên, lợi dụng chức vụ quyền hạn, đối với người đang thi hành công vụ, đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc chữa bệnh cho mình, sử dụng mạng máy tính hoặc là mạng viễn thông, phương tiện thông tin điện tử để phạm tội, Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể là 31% đến 60 %
- Khung 3: Phạt tù từ 02 đến 05 năm thì nếu có một trong các hành vi như là gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể là 61% trở lên hoặc làm nạn nhân tự sát.
Bên cạnh đó thì phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc là làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Ngoài ra thì nếu như người thực hiện hành vi cưỡng hôn người khác mà thực hiện cưỡng hôn với người dưới 16 tuổi thì có thể bị khởi kiện ở tội dâm ô theo quy định tại Điều 146 Bộ luật Hình sự 2015. Bởi vì dâm ô sẽ bao gồm những hành vi như là dùng bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm tiếp xúc với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, dùng bộ phận khác trên cơ thể tiếp xúc vuốt ve, sờ bóp.. với bộ phận sinh dục bộ phận nhạy cảm của người dưới 16 tuổi; dùng dụng cụ tình dục tiếp xúc với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của người dưới 16 tuổi; dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi dùng bộ phận khác trên cơ thể của họ để tiếp xúc với bộ phận nhạy cảm của người khác; các hành vi khác có tính chất tình dục nhưng không nhằm quan hệ tình dục như hôn vào miệng, cổ, tai, gáy... của người dưới 16 tuổi.
Theo đó thì theo quy định tại Điều 146 2015 thì đối với hành vi cưỡng hôn người dưới 16 tuổi thì sẽ bị xử phạt ở tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi. Cụ thể như sau:
- Phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm đối với hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc là nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác.
- Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm đối với các hành vi phạm tội thuộc vào một trong các trường hợp như là phạm tội có tổ chức, phạm tội 02 lần trở lên, đối với 02 người trở lên, đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm là chăm sóc giáo dục chữa bệnh, gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, tái phạm nguy hiểm
- Phạt tù từ 07 năm đến 12 năm đối với các hành vi như là làm cho người bị hại bị rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể là từ 61% trở lên hoặc là làm cho nạn chân tự sát.
Bên cạnh đó thì người phạm tội sẽ bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc là làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Như vậy thì tùy thuộc vào tính chất, mức độ của hành vi mà bản thân người cưỡng hôn người khác có thể bị phạt hành chính hoặc là phạt tù theo quy định của pháp luật.
Tham khảo thêm:
Làm nhục người khác là gì? Tội làm nhục, xúc phạm danh dự nhân phẩm.
Tố cáo đối với tội vu khống, làm nhục người khác như thế nào?
Vui lòng liên hệ 19006162 hoặc lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thêm.