1. Hướng dẫn về "hành vi quan hệ tình dục khác" trong Bộ luật Hình sự 2015. 

Hướng dẫn về hành vi quan hệ tình dục khác thì tại khoản 2 Điều 3 của Nghị quyết 06/2019/NQ- HĐTP có quy định như sau:

Hành vi quan hệ tình dục khác quy định tại khoản 1 Điều 141, khoản 1 Điều 142, khoản 1 Điều 143, khoản 1 Điều 144 và khoản 1 Điều 145 của Bộ luật Hình sự 2015  là hành vi của những người cùng giới tính hay khác giới tính sử dụng bộ phận sinh dục nam, bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: ngón tay, ngón chân, lưỡi...), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, miệng, hậu môn của người khác với bất kỳ mức độ xâm nhập nào, bao gồm một trong các hành vi sau đây:

-  Đưa bộ phận sinh dục nam xâm nhập vào miệng, hậu môn của người khác;

-  Dùng bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: ngón tay, ngón chân, lưỡi...), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, hậu môn của người khác.

Trong đó,

+ Dụng cụ tình dục là những dụng cụ được sản xuất chuyên dùng cho hoạt động tình dục (ví dụ: dương vật giả, âm hộ giả, âm đạo giả...) hoặc những đồ vật khác nhưng được sử dụng cho hoạt động tình dục.

+ Bộ phận khác trên cơ thể là bất kỳ bộ phận nào trên cơ thể không phải là bộ phận sinh dục và bộ phận nhạy cảm (ví dụ: tay, chân, miệng, lưỡi, mũi, gáy, cổ, bụng...)

+ Bộ phận sinh dục bao gồm bộ phận sinh dục nam và bộ phận sinh dục nữ. Bộ phận sinh dục nam là dương vật; bộ phận sinh dục nữ bao gồm âm hộ, âm đạo.

+ Bộ phận nhạy cảm bao gồm bìu, mu, hậu môn, háng, đùi, mông, vú.

2. Các trường hợp được loại trừ xử lý hình sự

Các trường hợp nào sẽ được loại trừ xử lý hình sự thì căn cứ theo quy định tại Điều 5 Nghị quyết 06/2019/NQ- H ĐTP có quy định về các trường hợp loại trừ xử lý hình sự như sau:

Đầu tiên đó là không xử lý hình sự theo quy định tại Điều 146 Bộ luật Hình sự 2015 ( tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi) nếu thuộc vào một trong các trường hợp sau đây:

+ Người trực tiếp chăm sóc, giáo dục người dưới 10 tuổi, người bệnh, người tàn tật, có hành vi tiếp xúc với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của họ nhưng không có tính chất tình dục (ví dụ: cha, mẹ tắm rửa, vệ sinh cho con dưới 10 tuổi; giáo viên mầm non tắm rửa, vệ sinh cho trẻ mầm non...)

+  Người làm công việc khám, chữa bệnh, chăm sóc y tế; người cấp cứu, sơ cứu người bị nạn có hành vi tiếp xúc với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác của người dưới 16 tuổi nhưng không có tính chất tình dục (ví dụ: bác sĩ khám, chữa bệnh cho bệnh nhân; sơ cứu, cấp cứu người bị tai nạn, người bị đuối nước...).

Thứ hai đó là không xử lý hình sự theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Hình sự 2015 ( tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm) đối với trường hợp người làm công tác giáo dục, khám, chữa bệnh, chăm sóc y tế mô tả bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của con người vì mục đích giáo dục, khám, chữa bệnh, chăm sóc y tế.

3. Tổ chức xét xử vụ án xâm hại tình dục có người bị hại là người dưới 18 tuổi

Việc tổ chức xét xử vụ án xâm hại tình dục có người bị hại là người dưới 18 tuổi là một trong những vấn đề hết sức nhạy cảm, một phần nào đó là nhằm bảo vệ cho đối tượng bị xâm hại và tránh trình trạng lo sợ hay bị kích động. Thông thường thì các nạn nhân này đang còn nhỏ và chưa có thể gánh chịu những cú sốc và tổn thương tâm lý lớn như vậy nên việc xét xử các vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi cũng cần được thực hiện một cách kín nhằm bảo vệ các nạn nhân. Theo đó thì khi xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi thì tòa án phải thực hiện như sau:

- Xét xử kín, tuyên án công khai theo đúng quy định tại Điều 327 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 . Khi tuyên án, Hội đồng xét xử chỉ đọc phần quyết định trong bản án; 

- Phân công Thẩm phán có kiến thức hoặc kinh nghiệm xét xử các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi;

-  Khi tham gia xét xử, Thẩm phán mặc trang phục làm việc hành chính của Tòa án nhân dân, không mặc áo choàng;

-  Xử án tại Phòng xét xử thân thiện theo đúng quy định tại Thông tư số 01/2017/TT-TANDTC ngày 28 tháng 7 năm 2017 và Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC ngày 21 tháng 9 năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Theo đó thì phòng xử án thì cần phải bảo đảm không gian để tiến hành phiên tòa, phiên họp và hàng rào ngăn cách giữa khu vực của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng với khu vực của người tham dự phiên tòa, phiên họp; phải bố trí lối đi riêng của Hội đồng xét xử, Hội đồng giải quyết việc dân sự, phá sản, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, chủ trì phiên họp; lối đi của những người tiến hành tố tụng khác, người tham gia tố tụng, người tham dự phiên tòa, phiên họp; tường trong phòng xử án có nền màu vàng. Người dưới 18 tuổi tham gia tố tụng tại phiên tòa được ngồi cạnh người đại diện, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

-  Có sự tham gia của người đại diện, người giám hộ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi.

Khi xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi, căn cứ vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, Tòa án cần thực hiện:

- Thứ nhất là tòa án cần sẽ phải hạn chế triệu tập bị hại là người dưới 18 tuổi đến phiên tòa nếu vẫn giải quyết được vụ án bằng việc áp dụng các biện pháp thay thế khác (ví dụ: sử dụng lời khai của họ ở giai đoạn điều tra, truy tố; mời họ đến Tòa án hoặc địa điểm hợp pháp khác để lấy lời khai trước bằng văn bản, bằng ghi âm, ghi hình có âm thanh...).

- Trong trường hợp mà tòa án phải triệu tập bị hại là người dưới 18 tuổi đến phiên tòa, Tòa án cần tạo điều kiện để họ làm quen, tiếp xúc với môi trường Tòa án, với quy trình và thủ tục xét xử; bố trí cho họ ngồi ở phòng cách ly và sử dụng các thiết bị điện tử (ví dụ: micro, loa, ti vi, camera...) để không làm ảnh hưởng đến tâm lý của họ khi họ khai báo, tham gia tố tụng tại phiên tòa; trường hợp không bố trí được phòng cách ly thì để họ ngồi ở phòng xử án nhưng phải có màn che ngăn cách với khu vực của bị cáo và khoảng cách giữa Hội đồng xét xử với người bị hại là người dưới 18 tuổi không quá 03 mét.

- Câu hỏi đối với bị hại là người dưới 18 tuổi thì cần phải phù hợp với lứa tuổi, mức độ phát triển, trình độ văn hóa, hiểu biết của họ. Cụ thể thì câu hỏi cần ngắn gọn, rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu; không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc; chỉ đặt câu hỏi làm rõ tình tiết vụ án; không đặt câu hỏi chỉ để tranh luận. Câu hỏi đối với bị hại dưới 10 tuổi không quá 10 từ và thời gian hỏi không liên tục quá 01 giờ.

- Sử dụng sơ đồ hoặc mô hình cơ thể có đánh số thứ tự các bộ phận để người bị hại là người dưới 18 tuổi xác định các bộ phận bị xâm hại.

- Khi bị cáo đề nghị được hỏi bị hại là người dưới 18 tuổi thì phải chuyển câu hỏi cho người bào chữa hoặc Hội đồng xét xử hỏi.

Ngoài ra thì theo quy định thì khi xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi, Tòa án không được: Yêu cầu bị hại là người dưới 18 tuổi tường thuật lại chi tiết quá trình phạm tội; Sử dụng câu hỏi có tính chất công kích, đe dọa, gây xấu hổ, xúc phạm bị hại; Đối chất giữa bị hại với người phạm tội tại phiên tòa; Xác định bộ phận bị xâm hại bằng cách để bị hại là người dưới 18 tuổi chỉ trực tiếp vào bộ phận cơ thể của mình hoặc của người khác;  Để bị cáo hỏi trực tiếp bị hại là người dưới 18 tuổi; Buộc bị hại là người dưới 18 tuổi phải đứng khi tham gia tố tụng tại phiên tòa; Công khai bản án, quyết định của Tòa án liên quan đến vụ án trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án.

Quy định về thời hạn xét xử vụ án xâm hại tình dục có bi hại là người dưới 18 tuổi cần được thực hiện áp dụng thủ tục rút gọn đối với các trường hợp mà đủ điều kiện theo quy định và đưa các vụ án khác ra xét xử trong thời hạn không quá 1/2 thời hạn pháp luật cho phép đối với các trường hợp tương tự. 

Tham khảo thêm:

Xâm hại trẻ em là gì ? Nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa hành vi xâm hại trẻ em. 

Hiểu như thế nào về hành vi lạm dụng tình dục, hiếp dâm, tấn công tình dục và quấy rối tình dục

Có thể liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại 19006162 hoặc lienhe@luatminhkhue.vn để có thêm thông tin chi tiết nhất.