1. Khái niệm người bị hại

Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản do tội phạm gây ra.

BLTTHS 2003 quy định “Người bị hại là người bị thiệt hại về vật chất, tinh thần hoặc tài sản do tội phạm gây ra”. Đến BLTTHS 2015 thuật ngữ “Người bị hại” trong BLTTHS 2003 đã được thay thế bằng thuật ngữ “Bị hại” trong đó khái niệm bị hại mở rộng hơn đối tượng bao gồm cá nhân và pháp nhân (BLTTHS 2003 quy định chỉ có cá nhân).

2. Đặc điểm chung về tâm lý của người bị hại

      Đặc điểm tâm lý của người bị hại thể hiện ở nhiều giai đoạn khác nhau nhưng rõ nhất ở giai đoạn ngay sau khi bị hành vi phạm tội xâm hại, giai đoạn lấy lời khai và giai đoạn xét xử. Ở mỗi giai đoạn thì người bị hại có những đặc điểm tâm lý khác nhau.

Giai đoạn ngay sau khi bị hành vi phạm tội xâm hại

      Tâm lý chung của người bị hại trong giai đoạn này có đặc điểm như sau: trạng thái tâm lý không ổn định, tinh thần bị kích động, hoảng loạn, lo sợ, thậm chí mất khả năng điều khiển hành vi của mình.

      Trong nhiều trường hợp, do hành vi mà người phạm tội gây ra quá đột ngột khiến nạn nhân bị sốc dẫn đến bất tỉnh. Hoặc với những trường hợp nạn nhân là phụ nữ hoặc trẻ em, người chưa trưởng thành của các vụ bạo hành tình dục, buôn bán người, nạn nhân có thể bị ảnh hưởng tâm lý vô cùng sâu sắc, mắc các bệnh tâm thần,…

3. Đặc điểm tâm lý của người bị hại qua từng giai đoạn cụ thể

3.1. Giai đoạn lấy lời khai

      Giai đoạn này do việc tội phạm xâm hại chỉ mới xảy ra chưa lâu nên ở người bị hại tình trạng xúc cảm, cảm xúc còn khá mạnh mẽ và sâu sắc, tâm lý căng thẳng hoang mang có thể lên đến đỉnh điểm hoặc thậm chí xuất hiện các biểu hiện rối loạn tâm lý ( đặc biệt đối với các tội phạm có sử dụng bạo lực, với tính côn đồ, man rợn hoặc các tội phạm tình dục). Người bị hại có thể có một số biểu hiện tâm lý sau đây :bức xúc cao độ đối với hành vi phạm tội đã xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân nên tích cực khai báo các thông tin về kẻ phạm tội và những thiệt hại của bản thân; bị ám ảnh về hành vi phạm tội đã xâm hại đến bản thân, vì quá sợ hãi mà không dám khai báo. Thông thường sẽ là các vụ: bạo dâm, cố ý gây thương tích hoặc nạn nhân là trẻ vị thành niên; lo lắng, sợ bị trả thù do tiếp cúc và cung cấp bằng chứng, chứng cứ cho cơ quan điều tra; rối loạn tâm lý nên khái báo thiếu, sai hoặc quá các tình tiết, khiến các bằng chứng, lời khai không được thống nhất.

      Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, tâm lý của người bị hại có thể ổn định dần và thay đổi theo hướng: Thông cảm, thương hại cho hoàn cảnh nhân thân của bị can nên có lời khai giảm nhẹ tội cho bị can hoặc xin bãi nại cho bị ban; hoặc quanh co, bất hợp tác che dấu một phần thiếu sót , một phần lỗi của bản thân là nguyên nhân tội phạm đó hoặc một tội phạm khác; thay đổi nhận thức về hành vi phạm tội do bị mua chuộc, lừa gạt, đe dọa.

3.2. Giai đoạn xét xử

      Bước sang giai đoạn này , tâm lý của người bị hại có nhiều thay đổi do các yếu tố khác nhau như: thiệt hại của người bị hại có thể giảm bớt hoặc tăng lên theo thời gian; thiệt hại được bồi thường hoặc chưa được bồi thường khắc phục.;hoàn cảnh của phiên tòa công khai, người bị hại phải tiếp xúc tâm lý với nhiều đối tượng khác nhau, đặc biệt là họ phải đối mặt với bị cáo đã xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của mình; người bị hại cũng đã có thời gian để suy nghị cân nhắc hơn về vụ án đã gây thiệt hại cho họ; cân nhắc lại lợi ích khi tham gia phiên tòa cung cấp lời khai so với công việc hằng ngày của họ;vụ án xảy ra quá lâu và có thể làm ảnh hưởng đến trí nhớ của người bị hại, đến sự quan tâm của hộ đối với vụ án, đặc biệt đối với vụ án mà phải mất nhiều thời gian điều tra; Mối quan hệ gữa người bị hại và bị cáo.

      Từ những thay đổi về hoàn cảnh ở trên đã dẫn đến những thay đổi nhất định trong đặc điểm tâm lý của bị cáo trong giai đoạn này. Cụ thể:

+ Bức xúc đối với bị cáo và hành vi phạm tội của bị cáo ( mức độ có thể giảm hơn so với giai đoạn điều tra do tâm lý của người bị hại đã ổn định hơn, thiệt hại đã được bồi thường một phần hoặc toàn bộ) nên sẵn sàng khai báo hoặc thậm chí thồi phồng sự thật

+ Sợ sệt, lo lắng rằng bị cáo sẽ trả thù ( do giao tiếp công khai tại piên tòa nên bị cáo biết được người bị hại và nội dung tố cáo của họ) nên khai báo thiếu trung thực

+ Bị ám ảnh, mất bình tĩnh, xấu hổ trong một số vụ án xâm phạm tới danh dự, nhân phẩm nên từ chối khai báo, khai báo không đúng.

+ Thương hại, thông cảm cho hoàn cảnh của bị cáo ( cũng có thể là do biết được hoàn cảnh của bị cóa, do mua chuộc, được bồi thường thỏa đáng) nên khai báo có phần giảm nhẹ hoặc xin bãi nại

+ Che dấu một phần lỗi của mình, bất hợp tác hoặc khai báo không đúng

+ Không quan tâm đến việc xét xử nên vắng mặt hoặc đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng xem xét lại lời khai ở giai đoạn điều tra đã được lưu trong hồ sơ vụ án.

4. Các yếu tố tác động đến đặc điểm tâm lý người bị hại

– Những thiệt hại mà người bị hại phải gánh chịu do tội phạm gây ra

– Đặc điểm nhân thân của người bị hại

– Quyền và nghĩa vụ của người bị hại

– Hoàn cảnh, điều kiện khi người bị hại tiếp xúc với Cơ quan điều tra, với cá nhân Điều tra viên và với những phương tiện mang tính cưỡng chế, quyền uy nhà nước

– Người bị hại có thể vẫn phải tiếp xúc trực tiếp với bị can thông qua việc tham gia đối chất, nhận dạng, thực nghiệm, điều tra.

5. Phương pháp tác động tâm lý tại phiên Tòa

5.1. Phương pháp truyền đạt thông tin

Được áp dụng rộng rãi trong tất cả các giai đoạn tố tụng

Chủ thể tác động đưa ra những thông tin có liên quan đến các vấn đề người bị tác động quan tâm -> tác động đến tư duy, tình cảm, ý chí … của họ

=> Làm xuất hiện những cảm xúc hay làm thay đổi thái độ và hành vi của người bị tác động

Chú ý:

  • Điều kiện truyền đạt thông tin: Đề xuất thông tin mới, cung cấp cho người bị tác động những thông tin cần thiết tối thiểu
  • Phương thức truyền đạt thông tin: Ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết, tài liệu, hình ảnh, sơ đồ
  • Hình thức truyền đạt thông tin: Câu hỏi, câu cảm thán, câu tường thuật, câu khẳng định, câu phủ định
  • Xác định trình tự và tốc độ truyền đạt thông tin: Khi truyền đạt thông tin cần phải đảm bảo sự tập trung chú ý của người bị tác động. Phải xem xét, lựa chọn để xác định trình tự phù hợp.

* Phương pháp truyền đạt thông tin sử dụng trong các trường hợp:

  • Cần làm tăng hiểu biết, kiến thức cho người bị tác động
  • Cần thay đổi hướng tư duy của người bị tác động khi họ cung cấp thông tin không đúng sự thật
  • Cần làm thay đổi xúc cảm, tình cảm, trạng thái tâm lý, quan điểm, lập trường của người bị tác động
  • Cần khôi phục lại trí nhớ về những tình tiết mà người bị tác động quên hoặc nhầm lẫn

5.2. Phương pháp thuyết phục

Dùng những lời lẽ để phân tích, giải thích cho người bị tác động nhằm giúp họ nhận rõ đúng, sai, phải, trái, thiệt hơn về các vấn đề có liên quan tới họ

=> Làm cho họ thay đổi cách nhìn nhận và thay đổi thái độ, đồng thời hình thành cách nhìn mới, thái độ mới phù hợp

* Các dạng thuyết phục

  • Thuyết phục logic
  • Thuyết phục tình cảm
  • Thuyết phục tranh luận
  • Thuyết phục cổ động, tuyên truyền

* Các bước thuyết phục:

  • Trình bày các chứng cứ nhất định
  • Truyền đạt thông tin xác nhận tính đúng đắn của các chứng cứ đã đưa ra
  • Sự nghi ngờ khi nghe và sự phản đối của người bị tác động
  • Trình bày các chứng cứ mới có chú ý tới sự phản đối
  • Nhắc lại các chứng cứ riêng biệt và các yếu tố riêng biệt của thông tin nhằm mục đích gây tác động đầy đủ đến quá trình tư duy của người bị tác động

5.3. Phương pháp đặt vấn đề và thay đổi vấn đề tư duy

Hướng quá trình tư duy của người bị tác động bằng cách đặt cho họ những nhiệm vụ tương ứng (câu hỏi),

-> Để khi giải quyết những nhiệm vụ này họ buộc phải sử dụng thông tin từ mô hình tư duy của sự kiện

Cụ thể:

Đặt ra một loạt câu hỏi chi tiết để khám phá sự thiếu rõ ràng về một khối lượng lớn những thông tin của đối tượng đã đưa ra lời khai không  đúng về sự kiện

Ví dụ: Người làm chứng khai suốt buổi tối anh ta ở cùng với can phạm trong phòng riêng của can phạm

* Phương pháp đặt và thay đổi vấn đề tư duy thường được sử dụng trong các trường hợp:

  • Khi người cung cấp lời khai quên một số tình tiết của vụ án
  • Khi cần làm thay đổi thái độ, quan điểm, lập trường của đối tượng
  • Khi người bị tác động khai báo không đúng sự thật

* Yêu cầu:

  • Sử dụng nhiều câu hỏi khác nhau: nghi vấn, phủ định, khẳng định
  • Ngữ điệu câu hỏi phù hợp
  • Thể hiện thái độ biểu cảm với câu hỏi

5.4. Phương pháp ám thị gián tiếp

Chủ thể tác động đưa ra những câu hỏi và thông tin về sự kiện nào đó không có quan hệ trực tiếp đến vụ án, nhưng lại có quan hệ chặt chẽ với cuộc sống riêng tư của người bị tác động

=> Làm cho người bị tác động tự hiểu rằng: Những vấn đề đó mà chủ thể tác động đã biết thì chắc những vấn đề khác về vụ án, về hành vi của mình chắc chắn CQTHTT cũng đã biết hoặc sẽ biết -> Người bị tác động phải cân nhắc, suy nghĩ và thay đổi thái độ của mình

So sánh phương pháp ám thị gián tiếp với phương pháp đặt vấn đề và thay đổi vấn đề tư duy?

Trả lời: Thông tin ở phương pháp ám thị gián tiếp đưa ra không liên quan trực tiếp tới vụ án

5.5. Phương pháp mệnh lệnh

Là phương tiện cưỡng bức tâm lý nhằm giáo dục cho người bị tác động ý thức kỷ luật, tự giác và thái độ đúng đắn đối với llao động trong quá trình cải tạo

Được sử dụng trong:

  • Bắt giữ người
  • Khám xét
  • Cải tạo người phạm tội

5.6. Phương pháp giao tiếp tâm lý có điều khiển

Sử dụng các giao tiếp tâm lý trong hoạt động tư pháp để đạt các mục đích tác động

* Mục đích:

  • Xác định sự thật khách quan của vụ án
  • Giáo dục, cảm hóa cá nhân bị can, bị cáo, phạm nhân