1. Về khái niệm người bị hại

Người bị hại là một khái niệm quen thuộc trong khoa học pháp lý về TTHS, dường như không cần phải luận bàn. Tuy nhiên thế nào là người bị hại, phạm vi người bị hại...thì cho đến nay vẫn chưa có sự nhận thức thống nhất, các ý kiến còn khác nhau. Để có sự nhận thức đầy đủ và thống nhất về khái niệm người bị hại theo chúng tôi cần tiếp cận khái niệm này dưới những góc độ khác nhau:

- Dưới góc độ ngôn ngữ có thể hiểu người bị hại là con người cụ thể trong xã hội, chịu sự tác động tiêu cực của sự việc, hành vi hoặc bất kỳ sự tác động nào khác khác dẫn đến những thiệt thòi, mất mát hay tổn thương cho chính họ. Tất nhiên sự tác động đó là trái với ý muốn của người bị hại và họ tiếp nhận một cách thụ động. Thiệt hại gây ra cho người bị hại có thể là thiệt hại về vật chất hoặc phi vật chất và không cần phải giới hạn mức độ thiệt hại.

- Dưới góc độ ngôn ngữ pháp lý thì người bị hại là “người bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản do tội phạm gây ra. Người bị hại chỉ có thể là thể nhân bị người phạm tội làm thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản chứ không thể là pháp nhân”.

- Dưới góc độ pháp luật thực định: Điều 51 Bộ luật TTHS Việt Nam quy định: “Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra”. Pháp luật một số nước cũng có quy định tương tự. Chẳng hạn, Điều 53 Bộ luật TTHS Liên bang Nga quy định: “Người bị hại là người bị tội phạm gây thiệt hại về tinh thần, thể chất hoặc tài sản. Người tiến hành điều tra, dự thẩm viên, thẩm phán, tòa án ra quyết định công nhận là người bị hại”. Còn khoản 1 Điều 43 Bộ luật TTHS của Tiệp khắc trước đây quy định: “Người bị hại là người bị tội phạm gây thiệt hại về sức khỏe hoặc tài sản, tinh thần hoặc những thiệt hại khác”. Bộ luật TTHS Rumani cũng có quy định tương tự. Điều đó cho thấy pháp luật các nước có sự thống nhất trong định nghĩa người bị hại: Người bị hại là con người cụ thể; thiệt hại gây ra đó là tinh thần, thể chất, tài sản hoặc những thiệt hại khác; những thiệt hại đó do tội phạm gây ra. Tuy nhiên những quy định trên chưa làm rõ những vấn đề quan trọng như: thiệt hại do tội phạm gây ra có bao hàm những thiệt hại gián tiếp? Thiệt hại đó có mối liên hệ nhân quả với hành vi phạm tội? Thiệt hại đó có phải do bất kỳ tội phạm nào gây ra? Và có xem là người bị hại không trong trường hợp hành vi phạm tội chưa gây thiệt hại gì cho người đó? Về vấn đề này có ý kiến cho rằng: trong trường hợp phạm tội chưa đạt, tức là chưa gây thiệt hại gì thì không thể công nhận một cá nhân, tổ chức là người bị hại. Trong khi đó ý kiến khác lại cho rằng không chỉ khi tội phạm đã hoàn thành, mà cả trong trường hợp phạm tội chưa đạt, khi chưa gây ra thiệt hại gì do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của kẻ phạm tội, người có nguy cơ bị xâm hại cũng được gọi là người bị hại.

2. Đặc điểm tâm lý tư pháp của người bị hại là người dưới 18 tuổi

Người bị hại dưới 18 tuổi là tất cả những người ở mọi độ tuổi dưới 18 mà không phải chỉ ở độ tuổi 14 - 18 như đối với người bị buộc tội. Người dưới 18 tuổi dễ bị tội phạm xâm hại, dễ bị đưa đến nguy cơ nạn nhân hóa do sức khỏe, khả năng tự bảo vệ bản thân còn hạn chế, do ngây thơ, cả tin, thiếu hiểu biết xã hội. Khi bị tội phạm xâm hại, họ có nguy cơ bị tổn thương cao hơn (cho rằng tổn thất mình phải gánh chịu là quá lớn, xã hội quá bất công, cuộc đời quá bất hạnh, người lớn quá vô tâm, một số bị hại dưới 18 tuổi lại có diễn biến tâm lý tiêu cực theo chiều hướng tự đổ lỗi cho bản thân, tự oán trách bản thân) hoặc ngược lại chưa ý thức được về tổn thất mà mình đã trải qua hoặc những hậu quả mà mình sẽ phải gánh chịu trong những giai đoạn sắp tới của cuộc đời.  

(i) Đặc điểm tâm lý của người dưới 18 tuổi bị xâm hại: Người dưới 18 tuổi bị xâm hại là nạn nhân của các hành vi bạo lực, lạm dụng tình dục hoặc đe dọa tâm lý làm tổn thương về thể xác và tinh thần, trí tuệ (người chưa thành niên bị xâm hại là nạn nhân trong từng điều luật cụ thể). Đặc điểm cơ bản của người dưới 18 tuổi bị xâm hại nói chung bao gồm:

- Bị tổn thương về thể xác, đau đớn về cơ thể, hành vi xâm hại làm cho cơ thể hoặc một bộ phận của cơ thể hoạt động không bình thường, sự tổn hại đó được thể hiện ra bên ngoài như: Vết bầm tím, vết xây xước, vết hằn, sẹo... mắt thường có thể nhận biết được.

- Bị tổn thương về mặt tin thần: Bị chấn động mạnh về mặt tinh thần thể hiện ra bên ngoài bằng những hành vi: hoảng sợ, lo lắng căng thẳng, trầm uất, luôn bị ám ảnh về các hành vi đã gây ra tổn thương cho các em; lo lắng, sợ hãi khi nhớ lại sự việc hoặc gặp lại, nhìn thấy người lạ có hình dáng, đặc điểm, thái độ, động tác như kẻ đã gây ra sự việc đối với các em; sợ tiếp xúc với cha mẹ, người lạ, thường xuyên có những ác mộng khi ngủ... và có các hành vi không bình thường trong cuộc sống so với những đứa trẻ bình thường cùng lứa tuổi, đều có thể nhận biết được.

Những dấu hiệu về trạng thái tinh thần và thái độ thường thấy ở người dưới 18 tuổi bị xâm hại hoặc bị ngược đãi như: Tỏ ra đau khổ và buồn thảm khi thấy những đứa trẻ khác khóc lóc; hung hãn và có thái độ tiêu cực, phủ nhận; sợ bố mẹ và những người lớn khác; đứng ngồi không yên, có những thói quen bừa bãi, vô tổ chức; hay cắn móng tay, thậm chí đái dầm, từ chối và không muốn hợp tác….

(ii) Đặc điểm tâm lý của người dưới 18 tuổi bị xâm hại tình dục: Trong nhóm tội phạm xâm phạm danh dự, nhân phẩm con người, các tội danh liên quan đến xâm phạm tình dục, đặc biệt là xâm hại tình dục trẻ em là hành vi gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm, sinh lý của người bị hại. Trong thời gian gần đây, tình trạng xâm hại tình dục trẻ em ở Việt Nam có xu hướng gia tăng và để lại những hậu quả ngày càng nghiêm trọng. Khi tham gia vụ án liên quan đến xâm hại tình dục trẻ em, tiếp xúc với bị hại, chúng ta cần lưu ý một số đặc điểm tâm lý của bị hại là trẻ em bị xâm hại tình dục, cụ thể như:

- Trẻ bị xâm hại tình dục thường có cảm giác xấu hổ và tội lỗi, trẻ tự đổ lỗi cho bản thân mình về những gì đã xảy ra với trẻ và có cảm giác xấu hổ vì mình là nạn nhân. Từ tâm lý xấu hổ, mặc cảm tội lỗi này sẽ ngăn cản việc trẻ khai báo, trình bày lại sự việc với Luật sư cũng như các cơ quan bảo vệ pháp luật. Hiểu được trạng thái tâm lý trẻ em như vậy, giúp Luật sư tìm hiểu thêm về tâm lý trẻ em và diễn biến tâm lý của trẻ để có phương pháp tiếp xúc, trao đổi và kế hoạch bảo vệ tốt nhất cho các em.

- Trẻ tự ti và nhút nhát không tin tưởng vào bản thân, người khác và môi trường xung quanh. Trẻ mất khả năng chia sẻ cảm xúc và vật chất của mình với người khác, do đó, sẽ thiếu sự hợp tác trong quá trình làm việc với Luật sư cũng như cơ quan bảo vệ pháp luật. Với đặc điểm tâm lý này, trẻ thường có độ lì cao độ, không nói và không trả lời, không nghe. Trạng thái này không thuộc dạng chống đối bất hợp tác mà quá tự ti dẫn đến không thể hợp tác được.

- Trẻ thể hiện nhiều hành vi tự hủy hoại bản thân khác nhau như tự gây ra tai nạn cho mình, cố tình để bị đau ốm, đến việc có hành vi cố gắng tự sát… Đây là cách để trẻ thoát khỏi cảm nhận không tốt về bản thân. Dạng tâm lý này còn được gọi là tâm lý của dạng tự kỷ, trầm cảm, nên thường có những hành vi hành hạ bản thân mới thấy mình đỡ xấu hổ, tủi nhục. Hiểu được trạng thái tâm lý bất ổn này, giúp Luật sư có phương án tiếp cận và đưa trẻ ra khỏi trạng thái đó, an ủi và động viên kịp thời giúp trẻ bình tĩnh và hợp tác với Luật sư.

- Trẻ coi các đối tượng xung quanh gắn liền với mối đe dọa, sự sợ hãi, với nguy cơ sẽ bị đối xử tồi tệ dưới hình thức này hay hình thức khác. Một trong những biểu hiện lớn nhất của rối loạn tinh thần ở trẻ bị xâm phạm tình dục là sự khó khăn trong giao tiếp với mọi người xung quanh, kể cả người lớn và bạn bè cùng trang lứa. Thường gặp trạng thái tâm lý này ở trẻ em có nhiều thiệt thòi trong cuộc sống, như trẻ em lang thang đường phố, trẻ mồ côi, trẻ em bị lạm dụng tình dục hoặc sức lao động…

 - Trẻ có phản ứng bốc đồng, hiếu chiến, ngang bướng do bắt chước hành vi của kẻ xâm hại, có thể lặp lại hành động tình dục đó với trẻ khác… Những điều này khiến trẻ gặp khó khăn trong việc xây dựng quan hệ tốt đẹp với bạn bè do vậy càng làm cho trẻ thêm tự ti, tự hạ thấp giá trị bản thân;

- Trẻ thường có tâm lý bực tức, căng thẳng điều này có thể ảnh hưởng nặng nề đến quá trình phục hồi và cuộc sống sau này của trẻ;

- Trẻ thụ động, tránh né mọi khả năng phải đối đầu, hoàn toàn phục tùng và nghe lời của người khác, lựa chọn thái độ quá cẩn trọng trong mọi việc, luôn tỏ ra cần sự bảo vệ để tránh mọi rắc rối, nhạy cảm với những lời phê bình, không tự nhiên, thiếu tự tin;

- Trẻ có thể có biểu hiện rối loạn hành vi. Mức độ bị xâm hại tình dục có ảnh hưởng lớn đến tâm lý của các em và những biểu hiện rối loạn hành vi mỗi em cũng khác nhau;

Ngoài ra, bị hại là người dưới 18 tuổi có những đặc điểm tâm lý khác như: (i) Căm tức kẻ phạm tội: Do bị thiệt hại trực tiếp về thể chất, tinh thần bởi tội phạm, do đó, bị hại luôn mong muốn chủ thể tội phạm phải bị trừng phạt thật nặng; (ii) Có tâm lý dễ bị kích động, giảm khả năng kiềm chế cảm xúc.

Sự thiệt hại về thể chất, tinh thần hay tài sản đều có tác động rất mạnh tới trạng thái thần kinh - tâm lý của bị hại dẫn đến việc suy giảm khả năng kiềm chế cảm xúc. Có những trường hợp bị hại là người dưới 18 tuổi bị tổn thương nghiêm trọng về mặt tâm lý (sợ hãi, suy nhược về tinh thần và thể chất, rối loạn tâm thần và hành vi) do tác động bởi hành vi phạm tội gây ra. Vì vậy, khi tiếp xúc với Luật sư, phần lớn bị hại thuộc trường hợp này khi yêu cầu cung cấp các thông tin về vụ việc mà họ phải trải qua thì có thể xuất hiện sự xúc động, hoảng loạn cảm xúc và hành vi. Do đó, họ không thể tự mình cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác về vụ việc. Tâm lý lo sợ khiến bị hại rơi vào trạng thái bất hợp tác, từ chối khai báo: Lý do từ chối khai báo có thể do bị hại có quan hệ đặc biệt với kẻ phạm tội, do đó, có tâm lý không muốn người thân bị trừng phạt, có thể do bị hại có tâm trạng xấu hổ (trong những vụ án bị hại bị kẻ phạm tội xâm hại tình dục nên không muốn những người khác biết), hoặc người bị hại lo sợ sự khai báo sẽ ảnh hưởng đến hạnh phúc hoặc làm lộ những điều bí mật về đời tư hoặc tội lỗi khác của họ.

Trong những trường hợp bị hại bị hành vi phạm tội xâm hại khi đang có hành vi phạm tội khác hoặc khi đang có hành vi không trong sáng, nếu thiệt hại đối với họ không quá lớn, họ thường từ chối khai báo (bị đánh, cướp tài sản khi đang thực hiện hành vi phi đạo đức, khi đang có hành vi trái pháp luật, tài sản bị mất là tài sản do hành vi phạm pháp mà có...). Vì vậy, khi tiếp xúc với bị hại thuộc dạng này phải tế nhị, không hỏi về các tình tiết diễn biến cụ thể, khi tiếp xúc phải xác định chính xác nguyên nhân tâm lý cản trở sự khai báo của họ để lựa chọn cách thức bảo vệ lợi ích hợp pháp của họ.

3. Nguyên tắc làm việc với người dưới 18 tuổi

Giữ thái độ thân thiện, nhẹ nhàng khi làm việc với bị hại trong vụ án xâm hại người dưới 18 tuổi

Đó là một trong những nguyên tắc khi tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, điều tra các vụ án xâm hại người dưới 18 tuổi được quy định tại Thông tư số 43/2021/TT-BCA quy định trách nhiệm của lực lượng CAND trong việc thực hiện một số trình tự, thủ tục tố tụng hình sự thân thiện trong quá trình tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, điều tra vụ án xâm hại người dưới 18 tuổi.

Điều 3 của Thông tư quy định nguyên tắc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, điều tra các vụ án xâm hại người dưới 18 tuổi như sau: 

1. Bảo đảm tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.

2. Mọi hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, điều tra các vụ án xâm hại người dưới 18 tuổi phải được tiến hành trong môi trường thuận lợi cho việc bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, bí mật cá nhân và danh dự, nhân phẩm của bị hại là người dưới 18 tuổi. Hạn chế đến mức thấp nhất số lần tiếp xúc giữa bị hại là người dưới 18 tuổi với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị can.

3. Áp dụng các biện pháp phù hợp, cần thiết theo quy định của pháp luật để bảo vệ bị hại là người dưới 18 tuổi, người thân thích của họ được an toàn về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác khi các quyền, lợi ích ấy bị xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại.

4. Việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố về hành vi phạm tội xâm hại người dưới 18 tuổi do Cơ quan điều tra có thẩm quyền thực hiện.

5. Quá trình tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, điều tra các vụ án xâm hại người dưới 18 tuổi phải nhanh chóng, kịp thời. Trường hợp đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục rút gọn thì phải tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

6. Khi làm việc với bị hại là người dưới 18 tuổi, cần có thái độ thân thiện, nhẹ nhàng, sử dụng ngôn ngữ phù hợp với độ tuổi, giới tính, khả năng nhận thức và mức độ trưởng thành của họ; cần chú ý đến trạng thái tinh thần của người dưới 18 tuổi để áp dụng các biện pháp điều tra có hiệu quả, hạn chế đến mức thấp nhất số lần làm việc với họ.

4. Quyền của bị hại

Bị hại hoặc người đại diện của họ có quyền:

- Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ: trước khi lấy lời khai bị hại, điều tra viên, cán bộ điều tra phải thông báo và giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị hại biết, việc này phải được ghi vào biên bản.

- Đưa chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu: Bị hại có quyền đưa ra nhũng chứng cứ, tài liệu, đồ vật, để chứng minh hành vi phạm tội và những tình tiết khác của hành vi phạm tội, chứng minh những thiệt hại mà họ đã phải chịu do hành vi phạm tội gây ra. BỊ hại cũng có quyền đưa ra yêu cầu như yêu cầu xem xét chứng cứ, yêu cầu hoãn phiên toà v.v...

- Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tó tụng kiểm tra, đánh giá:

- Đề nghị giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật: bị hại có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám định, định giá tài sản về những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình; cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xem xét, giải quyết, nếu không chấp nhận phải trả lời bằng văn bản vả nói rõ lí do; khi không được chấp nhận thì bị hại có quyền tự mình yêu cầu giám định.

- Được thông báo về kết quả điều tra, giải quyết vụ án:

Bị hại được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án để họ biết được những vấn đề thuộc nội dung vụ án mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã kết luận, trên cơ sở đó họ chuẩn bị chứng cứ, lí lẽ hoặc yêu cầu để buộc tội bị cáo hoặc để chứng minh những thiệt hại mà bị can gây ra, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cho mình. Họ cũng có quyền được thông báo kết quả giải quyết vụ án của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

- Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Đề nghị hình phạt, mức bồi thường và các biện pháp đảm bảo bồi thường: Bị hại rất quan tâm đến việc quyền lợi của họ được giải quyết như thế nào, họ không những có quyền đề nghị mức bồi thường cho thoả đáng mà còn có quyền đề nghị các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp cân thiết để đảm bảo bồi thường như kê biên tài sản hoặc các biện pháp khác. Không chỉ quan tâm đến bồi thường thiệt hại, là nạn nhân của tội phạm, là chủ thể bị tội phạm xâm hại, họ quan tâm đến việc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự như thế nào về hành vi đã gây ra, vì vậy pháp luật quy định bị hại có quyền đề nghị hình phạt với bị cáo.

- Tham gia phiên toà; trình bày ý kiến, đề nghị chủ toạ phiên toà hỏi bị cáo và người khác tham gia phiên toà; tranh luận tại phiên toà để bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của mỉnh; xem biên bản phiên toà: BỊ hại tham gia phiên toà để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình tại phiên toà. Toà án phải triệu tập bị hại đến dự phiên toà, nêu bị hại vắng mặt, toà án phải hoân phiên toà nếù thấy cần thiết.

- Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;

- Tham gia các hoạt động tố tụng theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi, ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa;

- Kháng cáo bản án, quyết định của toà án: Bị hại có quyền kháng cáo bản án, quyết định của toà án về phần bồi thường cụng như hình phạt đối vói bị cáo. Khi tội phạm xảy ra, quan hệ pháp luật hình sự xuất hiện là quan hệ giữa Nhà nước và chủ thể của tội phạm (về quan hệ pháp luật tố tụng hình sự thì đó là giữa cơ quan tiến hành tố tụng và bị can, bị cáo), còn mối quan hệ giữa bị can, bị cáo và bị hại chỉ là quan hệ dân sự trong việc bồi thường những thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra.

- Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, kháng cáo bản án, quyết định của toà án về phần bồi thường cũng như hình phạt đối với bị cáo: Bị hại là chủ thể có quyền lợi liên quan trong vụ án, nếu các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng không có căn cứ hoặc trái pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của mình thì họ có quyền khiếu nại.

- Các quyền khác theo quy định của pháp luật;

- Trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại hoặc người đại diện của họ trình bày lời buộc tội tại phiên toà. Quyền được yêu cầu khởi tố vụ án là quyền đặc thù của bị hại. Cùng vói quyền yêu cầu khởi tố vụ án trong những trường hợp này, bị hại và đại diện của họ còn có quyền rút yêu cầu khởi tố trước khi mở phiên toà và quyền trình bày lời buộc tội tại phiên toà.

5. Nghĩa vụ của bị hại

- Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; trường hợp cố ý vắng mặt không vì lí do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị dẫn giải: Bị hại phải có mặt khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình và tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết vụ án. Việc bị hại vang mặt có thể cản trở hoạt động tố tụng, vì vậy nếu họ cố ý vắng mặt không vì lí do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị dẫn giải;

- Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Bị hại có nghĩa vụ phải khai báo, cung cấp những thông tin cần thiết giúp cho việc làm sáng tỏ sự thật của vụ án và chấp hành quyết định, yêu cầu khác của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Việc giải quyết đúng đắn vụ án không chỉ bảo vệ lợi ích Nhà nước mà còn bảo vệ lợi ích của bị hại nên bị hại thường chủ động tích cực trong việc khai báo. Việc họ từ chối khai báo hoặc không chấp hành những quyết định, yêu cầu khác của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không có lí do chính đáng là việc không bình thường, không phù hợp tâm lí của nạn nhân. Hành vi không chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đó gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án, có thể bị coi là tội phạm và phải chịu ữách nhiệm hình sự theo Điều 383 BLHS.

Trường hợp bị hại chết, mất tích, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị hại.

Cơ quan, tổ chức là bị hại có sự chia, tách, sáp nhập, hợp nhất thì người đại diện theo pháp luật hoặc tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó có những quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 62 bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.