1. Quy định của pháp luật
Nhà nước không cho phép cá nhân, tổ chức nào được can thiệp để tội phạm xảy ra mà không bị khởi tố. Tuy nhiên, trong thực tế, không ít trường hợp tội phạm xảy ra đã gây thiệt hại cho bị hại không chỉ về lợi ích vật chất mà cả về tinh thần hoặc uy tín. Việc khởi tố vụ án hình sự để truy cứu trách nhiệm người thực hiện tội phạm trong các trường hợp này có thể lại gây thêm những tổn thất khác cho bị hại. Bởi vì, nếu không khởi tố vụ án để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện tội phạm mà để cho bị hại tự mình lựa chọn cách giải quyết sao cho vừa được đền bù một phần những mất mát xảy ra, vừa giữ được tình cảm xóm làng, họ hàng, anh em hoặc giữ kín những chuyện đời tư thì tác dụng của cách giải quyết này có thể còn lớn hơn. Vì thế, để hạn chế những trường hợp khi có tội phạm xảy ra, việc khởi tố vụ án có thể gây thêm tổn thất cho bị hại, pháp luật quy định trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại, tạo khả năng và điều kiện cho bị hại được tự do lựa chọn cách giải quyết hoặc là yêu cầu pháp luật can thiệp hoặc tự dàn xếp với người đã gây thiệt hại cho mình một cách ổn thoả. Tuy vậy, pháp luật cho phép sự thể hiện ý chí của bị hại trong việc tự giải quyết các sự việc gây thiệt hại cho chính mình cũng chỉ trong giới hạn nhất định mà xã hội và cộng đồng có thể chấp nhận được.
Do đó, Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định, đối với một số tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng xâm hại đến sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, quyền sở hữu công nghiệp của bị hại, nếu không có những tình tiết tăng nặng mà chỉ có những tình tiết quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của BLHS năm 2015 thì chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của bị hại hoặc đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.
Các trường hợp khởi tố vụ án hình sự khi có yêu cầu của người bị hại:
Trường hợp 1: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Khoản 1 Điều 134).
Trường hợp 2: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Khoản 1 Điều 135).
Trường hợp 3: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (Khoản 1 Điều 136).
Trường hợp 4: Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Khoản 1 Điều 138).
Trường hợp 6: Tội hiếp dâm (Khoản 1 Điều 141).
Trường hợp 7: Tội cưỡng dâm (Khoản 1 Điều 143).
Trường hợp 8: Tội làm nhục người khác (Khoản 1 Điều 155).
Trường hợp 9: Tội vu khống (Khoản 1 Điều 156)
Trường hợp 10: Tội xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp (Khoản 1 Điều 226).
Đối với những vụ án về các tội phạm trên, nếu bị hại không yêu cầu khởi tố thì cơ quan có thẩm quyền không được khởi tố vụ án. Trường hợp bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết thì người đại diện của họ có quyền yêu cầu khởi tô vụ án.
Để ra quyết định khởi tố vụ án, cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm, xác định dấu hiệu của tội phạm và yêu cầu khởi tố của bị hại. Yêu cầu khởi tố của bị hại được thể hiện qua đơn yêu câu của họ hoặc ý kiến ở biên bản ghi lời khai.
Trong những trường hợp vụ án đã được khởi tố theo yêu cầu của bị hại nhưng người đã yêu cầu khởi tố tự nguyện rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ. Nếu vụ án đang trong giai đoạn điều tra thì cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra, nếu vụ án đã kết thúc điều tra và hồ sơ được chuyên sang viện kiểm sát thì viện kiểm sát đình chỉ vụ án, nếu hồ sơ vụ án đã chuyển sang toà án thì toà án đình chỉ vụ án. Trong trường hợp có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố vụ án rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì mặc dù người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố, cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án. Đối với những trường hợp bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.
2.Một số vướng mắc hiện nay về giải quyết vụ án theo yêu cầu của bị hại
- Trong quá trình giải quyết vụ án, người bị hại không hợp tác.
- Trong quá trình giải quyết vụ Vụ án có nhiều bị hại nhưng chỉ một hoặc một số người yêu cầu khởi tố vụ án, những người còn lại không yêu cầu thì không khởi tố vụ án hình sự vì không đảm bảo được đầy đủ tất cả yêu cầu của các bị hại về việc khởi tố vụ án, do đó không thể khởi tố vụ ánán người bị hại không chịu hợp tác.
- Trường hợp vụ án có nhiều người cùng thực hiện hành vi phạm tội nhưng bị hại chỉ yêu cầu khởi tố vụ án đối với hành vi của một hoặc một số người phạm tội.
3.Khởi tố theo yêu cầu của bị hại và quyền rút yêu cầu khởi tố của bị hại
Căn cứ vào Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có quy định:
Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại
1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.
2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.
Cụ thể:
- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Khoản 1 Điều 134).
- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Khoản 1 Điều 135).
- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (Khoản 1 Điều 136).
- Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Khoản 1 Điều 138).
- Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Khoản 1 Điều 139).
- Tội hiếp dâm (Khoản 1 Điều 141).
- Tội cưỡng dâm (Khoản 1 Điều 143).
- Tội làm nhục người khác (Khoản 1 Điều 155).
- Tội vu khống (Khoản 1 Điều 156)
- Tội xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp (Khoản 1 Điều 226 )
Như vậy trong trường hợp phải đình chỉ vụ án khi người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu đối với người phạm tội tại các tội nêu trên
Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài
4.Hậu quả pháp lý khi bị hại rút đơn yêu cầu
Căn cứ vào Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự có quy định:
5. Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự
Căn cứ vào Điều 157 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có quy định không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các căn cứ sau:
- Không có sự việc phạm tội;
- Hành vi không cấu thành tội phạm;
- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;
- Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;
- Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
- Tội phạm đã được đại xá;
- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;
- Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 13, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê