1. Khái niệm tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại

Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng được định nghĩa là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay và bên đi vay, trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên vay khi đến hạn thanh toán (Hồ Diệu 2003). Hoạt động tín dụng được xem là hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng, thường đối với hầu hết các ngân hàng, dư nợ tín dụng chiếm đến hơn ½ tổng tài sản có và thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm khoảng từ ½ đến hơn 70% tổng thu nhập của ngân hàng. Vì tín dụng là khoản mục sinh lợi chủ yếu trong hoạt động ngân hàng nên đây cũng chính là khoản mục rủi ro chủ yếu của ngân hàng thương mại (Lê Văn Tề 2009).
Theo đó, tín dụng ngân hàng có những đặc điểm như dựa trên cơ sở lòng tin, là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn hay có tính hoàn trả, dựa trên nguyên tắc không chỉ hoàn trả gốc mà phải trả lãi và cam kết hoàn trả vô điều kiện và là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng.
Tín dụng KHCN tại NHTM là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa hai đối tượng: ngân hàng và KHCN của ngân hàng. Mối quan hệ này được công nhận dựa trên hợp đồng tín dụng, trong đó ngân hàng chuyển giao một lượng tiền tệ nhất định cho KHCN được sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời cam kết hoàn trả lại theo thời gian đã thỏa thuận.
Khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại là toàn bộ các cá thể trong xã hội có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự.
Theo Bộ Luật Dân sự năm 2015, năng lực pháp luật dân sự là năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và có nghĩa vụ dân sự, mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự khác nhau, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi cá nhân đó mới sinh ra và chấm dứt khi cá nhân đó chết đi,năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không bị hạn chế trừ một số trường hợp do pháp luật quy định (cá nhân bị truy nã, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự…).
Khách hàng cá nhân là đối tượng vô cùng đa dạng, tạo nên một thị trường đầy tiềm năng và “màu mỡ” cho các ngân hàng. Đây là một nguồn khách hàng cực kỳ quan trọng và chiếm tỷ lệ lớn trong các hoạt động của ngân hàng. Tuy nhiên, KHCN luôn là những vị khách “khó chiều” khi những thông tin tài chính và phi tài chính của họ rất khó xác định một cách chính xác vì có những nguồn thu ổn định có cơ sở để xác định, nhưng cũng có những nguồn thu nhập không ổn định và không có cơ sở để xác định. Bên cạnh đó, họ còn rất hay thay đổi nơi cư trú, địa bàn hoạt động và nghề nghiệp. Một điểm quan trọng làm nên sự khác biệt của khách hàng cá nhân là đối tượng này phải chịu trách nhiệm dân sự vô hạn bằng toàn bộ tài sản của chính mình. Chính điều này, là một trở ngại lớn khiến nhóm này khá e dè với các sản phẩm tín dụng của ngân hàng hơn là khách hàng doanh nghiệp.

2. Đặc điểm tín dụng khách hàng cá nhân

Ngoài những đặc điểm chung của tín dụng thì tín dụng KHCN mang những nét khác biệt so với các loại hình tín dụng doanh nghiệp như sau:

2.1 Thứ nhất là quy mô các món vay thường nhỏ, nhưng số lượng các món vay lại lớn 

mục đích vay của KHCN chủ yếu như sau:
- Bổ sung vốn kinh doanh. Thường các hoạt động sản xuất kinh doanh này đều không có quy mô lớn, bên cạnh đó hầu hết khách hàng tìm đến ngân hàng khi đã có số vốn tương đối nên chỉ bổ sung phần thiếu tương đối nhỏ.
- Phục vụ nhu cầu tiêu dùng hằng ngày. Khoản vay cá nhân cho mục đích này trực tiếp phục vụ cho nhu cầu chi tiêu cho cuộc sống như mua nhà, xe, mua sắm vật dụng gia đình, xây dựng, sửa chữa nhà, du học. Đây đều là những khoản vay nhỏ lẻ tuy nhiên do đối tượng khách hàng là mọi cá nhân trong xã hội, từ những người có thu nhập cao, thu nhập trung bình và kể cả người có thu nhập thấp nên nhu cầu tín dụng khá đa dạng và phong phú.

2.2 Tín dụng KHCN gây tốn kém nhiều chi phí

Do đặc điểm của khách hàng cá nhân là số lượng nhiều và phân tán rộng nên sẽ tốn kém nhiều chi phí cho các công tác như là mở rộng hệ thống mạng lưới, quảng cáo, tiếp thị tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận đối tượng KHCN ở từng địa bàn, khu vực, phát triển nhân sự đầy đủ nhằm phục vụ khách hàng nhanh chóng, chính xác từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định đến quyết định cho vay, giải ngân và thu nợ cũng như các chi phí liên quan như: chi phí quản lý, văn phòng phẩm, điện, nước, điện thoại, công tác phí hỗ trợ CBTD… Vì vậy mà lãi suất của tín dụng KHCN thường cao hơn so với khách hàng doanh nghiệp. Đối với các khoản vay cá nhân, do thông tin về nhân thân, lai lịch và tình hình tài chính của khách hàng thường không đầy đủ và khó thu thập nên ngân hàng thường tốn nhiều chi phí cho việc xác định thẩm định và xét duyệt vay.

2.3 Thứ ba là tín dụng KHCN rủi ro cao hơn so với khách hàng doanh nghiệp 

Ngoài những lý do chung của tín dụng ngân hàng thì các khoản vay cá nhân còn có những rủi ro xuất phát từ bản thân khách hàng như điều kiện tài chính của cá nhân hay hộ gia đình có thể thay đổi bất lợi rất nhanh do bệnh tật, tai nạn, thất nghiệp hay các bi kịch gia đình.

2.4 Chất lượng thông tin tài chính của khách hàng vay thường không cao

Khi thẩm định cho vay thì thông tin này là một yếu tố cực kỳ quan trọng để ngân hàng đưa đến quyết định cho vay, bên cạnh tính hợp lý và hợp pháp của nhu cầu vốn, khả năng trả nợ và TSĐB. Đối với khách hàng là tổ chức, việc nắm bắt thông tin khách hàng là tương đối thuận lợi do có rất nhiều nguồn thông tin được công khai như: báo cáo tài chính, thông tin XHTD, tình hình nộp thuế, uy tín quan hệ với đối tác… Ngược lại, đối với KHCN, việc đánh giá nhân thân, nguồn trả nợ, mục đích sử dụng vốn vay thường khó đầy đủ, rõ ràng và chính xác dẫn đến rủi ro thông tin bất cân xứng, khiến cho việc thẩm định khách hàng thiếu chính xác.

2.5 KHCN chịu trách nhiệm vô hạn trên số tiền vay 

với khách hàng doanh nghiệp (trừ doanh nghiệp tư nhân) khi xảy ra các biến cố không mong muốn như phá sản, giải thể thì họ chỉ chịu trách nhiệm giới hạn trên vốn điều lệ đã đăng ký trước đó. Điều này dẫn đến tình trạng là ngân hàng có thể sẽ không thu được nợ của mình nếu nguồn vốn của doanh nghiệp không đủ để trả nợ. Ngược lại, trong trường hợp xảy ra biến cố, KHCN phải chịu trách nhiệm toàn bộ đối với các chủ nợ nói chung và ngân hàng nói riêng.

3. Phân loại tín dụng khách hàng cá nhân

Phân loại tín dụng KHCN có rất nhiều cách dựa vào các căn cứ khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu, tuy nhiên người ta thường phân loại theo một số tiêu thức sau:

3.1 Phân loại theo phương thức cho vay

Cho vay từng lần: Là hình thức cho vay mà mỗi một lần vay vốn, khách hàng và ngân hàng phải hoàn tất thủ tục cần thiết và ký hợp đồng tín dụng. Theo đó, mỗi một hợp đồng tín dụng có thể giải ngân một hoặc nhiều lần, tùy vào nhu cầu sử dụng vốn của khách hàng; tuy nhiên, tổng số tiền trên giấy nhận nợ không vượt quá số tiền đã ký trong hợp đồng tín dụng. Hình thức tín dụng này áp dụng cho các khách hàng có nhu cầu sử dụng vốn một lần duy nhất, hoặc các khách hàng có nhu cầu vay vốn không thường xuyên.
Cho vay theo hạn mức tín dụng: Với những khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên hoặc phụ thuộc nhiều vào quá trình sản xuất kinh doanh thì với hình thức cho vay từng lần sẽ không mang lại hiệu quả cao do mất quá nhiều thời gian cho các thủ tục vay vốn và ký hợp đồng tín dụng. Trong trường hợp này, cho vay theo hạn mức tín dụng, sẽ là một lựa chọn sáng suốt để gia tăng sự chủ động và linh hoạt trong nhu cầu sử dụng vốn của khách hàng. Với hình thức này, ngân hàng sẽ cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng tùy thuộc vào mức thu nhập hoặc chu kỳ sản xuất kinh doanh và được duy trì trong một thời gian nhất định. Trong thời gian này, khách hàng được chủ động rút vốn trong hạn mức cho phép mà không bị giới hạn về tổng số tiền đã được giải ngân trước đó.

3.2 Phân loại theo thời gian

Tín dụng KHCN ngắn hạn: là những khoản tín dụng ngân hàng cấp cho khách hàng có thời hạn trong vòng 12 tháng trở xuống. Mục đích chủ yếu của khoản tín dụng này là bổ sung nguồn vốn thiếu hụt của các hộ kinh doanh hoặc những nhu cầu tiêu dùng có thời gian ngắn hạn.Tín dụng KHCN trung hạn: là những khoản tín dụng ngân hàng cấp cho khách hàng có thời hạn trên 12 tháng cho đến 60 tháng (5 năm). Mục đích chủ yếu của khoản vay này là để mua sắm các tài sản cố định, sửa chữa nhà, mua phương tiện vận tải...
Tín dụng KHCN dài hạn: là những khoản tín dụng có thời hạn trên 60 tháng (5 năm). Những khoản vay dài hạn này nhằm đáp ứng nhu cầu tương tự các khoản vay trung hạn tuy nhiên có thời gian dài hơn, thường KHCN áp dụng cho các khoản vay mua nhà, sửa nhà…

3.3 Phân loại theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng

Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: là loại cho vay có tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh của bên thứ ba hoặc TSĐB hình thành trong tương lai. Hiện nay các khoản vay lớn của KHCN đều được áp dụng loại cho vay này.
Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: là loại vay không có tài sản thế chấp, khi đó ngân hàng sẽ dựa vào các tiêu chí, điều kiện nhất định để cấp tín dụng cho khách hàng. Với loại tín dụng này, ngân hàng thương mại có quyền chủ động và tự chịu trách nhiệm trong việc lựa chọn khách hàng để cho vay không có TSĐB. Thông thường chỉ có những khách hàng vay có uy tín cao, quan hệ lâu dài, thường xuyên với ngân hàng, phương án vay có hiệu quả kinh tế, dòng tiền trả nợ rõ ràng, chắc chắn, ngoài ra người vay còn phải cam kết thực hiện bảo đảm bằng tài sản khi tổ chức tín dụng yêu cầu thì mới được ngân hàng chấp nhận cho vay không có đảm bảo.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty Luật Minh Khuê