Mục lục bài viết
- 1. Phương pháp định tính
- 2. Phương pháp định lượng
- 2.1 Hệ thống điểm tín dụng
- 2.2 Hệ thống XHTD nội bộ
- 3. Cách thức tổ chức thẩm định tín dụng khách hàng cá nhân
- 3.1 Phương pháp giao toàn bộ công việc thẩm định cho cán bộ tín dụng thực hiện
- 3.2 Phương pháp giao công việc thẩm định cho một số người hoặc bộ phận thực hiện
- 3.3 Kiểm soát quá trình thẩm định tín dụng khách hàng cá nhân
- 3.4 Mô hình kiểm soát rủi ro tín dụng tập trung
- 3.5 Mô hình kiểm soát rủi ro tín dụng phân tán
1. Phương pháp định tính
Để thẩm định tín dụng KHCN, các NHTM thường sử dụng phương pháp định tính (phương pháp truyền thống) để nghiên cứu và đánh giá các khía cạnh của người đi vay tiêu biểu như mô hình 5C bao gồm các khía cạnh tư cách người đi vay (Character), năng lực của người vay (Capacity), thu nhập của người vay (Cash), bảo đảm tiền vay (Collateral), điều kiện cho vay (Conditions) hoặc 6C bao gồm 5 yếu tố trên và thêm khía cạnh về việc kiểm soát tín dụng (Control) (Nguyễn Minh Kiều 2006). Phương pháp này sử dụng kinh nghiệm và kiến thức của các chuyên gia để xét duyệt trước khi ra quyết định cấp tín dụng, đồng thời cũng sử dụng để đánh giá chất lượng khoản tín dụng trong suốt quá trình tồn tại trên danh mục.
Các ngân hàng thường sử dụng phương pháp định tính để thẩm định thông qua hồ sơ khách hàng cung cấp và hình thức phỏng vấn trực tiếp để đánh giá khách hàng. Ưu điểm của nó là đơn giản, đánh giá được tổng thể lịch sử vay nợ, tình hình tài chính… giúp nhanh chóng ra quyết định về khoản vay. Nhược điểm là phụ thuộc quá nhiều vào mức độ chính xác của nguồn thông tin thu thập được, khả năng dự báo cũng như trình độ phân tích, đánh giá chủ quan của CBTD.
2. Phương pháp định lượng
Hiện nay, hầu hết các ngân hàng đều sử dụng phương pháp định lượng để lượng hóa được rủi ro và dự báo những tổn thất có thể xảy ra trong quá trình cấp tín dụng. Các tiêu chí đã được lựa chọn kỹ cho từng nhóm khách hàng (ví dụ như nhóm khách hàng tiêu dùng sẽ sử dụng các tiêu chí thu nhập, tài sản, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, nơi ở…) sẽ được lượng hóa để đánh giá xác suất rủi ro tín dụng. Một số mô hình thường được sử dụng như sau:
2.1 Hệ thống điểm tín dụng
Hệ thống điểm tín dụng là phương pháp định lượng rủi ro được áp dụng rộng rãi để phân tích khách hàng trong các giao dịch tín dụng, từ tín dụng tiêu dùng đến tín dụng cho sản xuất kinh doanh, khách hàng cá nhân cũng như các khách hàng doanh nghiệp (Bùi Diệu Anh 2013). Mục tiêu của hệ thống điểm tín dụng là đánh giá, cho điểm khách hàng dựa trên các nhân tố, từ đó nhận dạng khả năng vỡ nợ của khách hàng. Căn cứ vào điểm tín dụng của mình, người đi vay sẽ được phân vào một trong hai nhóm người vay tốt và người vay xấu.
Ưu điểm của hệ thống điểm tín dụng là:
- Loại bỏ được những đánh giá mang tính cá nhân của người thẩm định.
- Cho phép xử lý nhanh một khối lượng lớn các đơn xin vay.
- Chi phí thấp và khách quan hơn. Nhược điểm của mô hình này là:
- Các thông tin dùng trong hệ thống chấm điểm là những thông tin trong quá khứ vì vậy có thể phản ánh không chính xác tư cách tín dụng của người đi vay trong hiện tại và tương lai.
- Các thông tin dùng trong hệ thống điểm tín dụng bị phiến diện vì chỉ là các thông tin về những khách hàng đã được ngân hàng chấp thuận cho vay.
- Phương pháp hệ thống điểm tín dụng dựa trên cơ sở số đông nên có thể bỏ qua những trường hợp khách hàng có hoàn cảnh cá biệt.
2.2 Hệ thống XHTD nội bộ
Từ sau sự ra đời của hiệp ước Basel II vào năm 2004, với khuyến khích của ủy ban Basel, nhiều ngân hàng đã bắt đầu sử dụng mô hình XHTD nội bộ nhằm quản lý tốt hơn rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng. Hệ thông XHTD nội bộ là hệ thống đánh giá về khách hàng thông qua chỉ tiêu tài chính và phi tài chính, được xây dựng cho từng đối tượng khách hàng của ngân hàng. Hệ thông XHTD nội bộ giúp phân biệt mức độ rủi ro trong từng khách hàng tín dụng khác nhau. Có thể nói hệ thống XHTD nội bộ là công cụ quan trọng trong việc kiểm soát, nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng của từng khách hàng riêng biệt cũng như tổng thể danh mục tín dụng.
Một số ưu điểm của mô hình XHTD nội bộ so với những mô hình khác như sau:
- Giúp đánh giá mức độ tín nhiệm của người đi vay hiệu quả thông qua một
hệ thống tiêu chuẩn thống nhất từ đó nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng.
- Áp dụng cùng một thang đo chuẩn trong đánh giá khách hàng giúp tạo tính minh bạch, khách quan, nhất quán toàn hệ thống ngân hàng.
- Hệ thống XHTD nội bộ đáp ứng được một số yêu cầu về quản trị rủi ro theo tiêu chuẩn Basel II như: xây dựng hệ thống cảnh báo sớm đối với các khoản nợ xấu phát sinh, nhận diện rủi ro liên quan đến khách hàng vay, thực hiện chấm điểm khách hàng và phân loại nợ, ứng dụng những dụng cụ đo lường rủi ro tín dụng khác.
3. Cách thức tổ chức thẩm định tín dụng khách hàng cá nhân
Đây là khâu rất quan trọng, ảnh hưởng lớn đến việc ra quyết định tín dụng chính xác hay không, vì vậy phải phân định rõ trách nhiệm của những người tham gia vào giai đoạn này. Thông thường có hai cách tổ chức như sau:
3.1 Phương pháp giao toàn bộ công việc thẩm định cho cán bộ tín dụng thực hiện
Theo phương pháp này cách tổ chức thẩm định là giao cho một hoặc một số người thực hiện toàn bộ các nội dung thẩm định. Chỉ khi nào vượt mức thẩm quyền phán quyết của đơn vị thì hồ sơ tín dụng sẽ được chuyển về chi nhánh trực thuộc hoặc hội sở. Tại đây, hồ sơ được tái thẩm định hoặc đưa ra hội đồng tín dụng xem xét. Mô hình này thường được áp dụng tại một số ngân hàng tại Việt Nam như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam…
Ưu điểm:
- Phát huy tính độc lập và tự chịu trách nhiệm của CBTD, giảm sức ép lên nhà quản trị.
- Gọn nhẹ, cơ cấu tổ chức đơn giản.
- Chủ động và tiết kiệm thời gian, bán hàng và chăm sóc khách hàng hiệu quả.
Nhược điểm:
- Nhiều công việc tập trung hết một nơi, thiếu chuyên sâu.
- Hoạt động tín dụng được quản lý từ xa, khó kiểm soát, sâu sát kỹ càng quy trình thẩm định tín dụng.
- Không đảm bảo tính chính xác và khách quan. Vì vậy nhiều ngân hàng đã quy định những trường hợp vượt mức hoặc có mâu thuẫn trong kết quả ra quyết định tín dụng thì phải đưa ra Hội đồng tín dụng phán xét. Theo đó, khoản vay thuộc PGD phán xét sẽ được chuyển cho ban tín dụng cấp chi nhánh; khoản vay vượt quyền phán xét của Ban Giám đốc chi nhánh sẽ do hội đồng tín dụng khu vực phán quyết.
Trong mô hình này, nhà quản trị phải xác định rõ trình độ và kinh nghiệm của các bộ phận lãnh đạo ĐVKD trong quy trình thẩm định tín dụng. Từ đó quy định số tiền tối đa mà họ có quyền ra quyết định tín dụng. Mức phán quyết tăng lên theo trình độ và kinh nghiệm của nhân viên, cũng như quy mô của ĐVKD.
3.2 Phương pháp giao công việc thẩm định cho một số người hoặc bộ phận thực hiện
Với phương pháp này, CBTD tại chi nhánh, phòng giao dịch thu thập toàn bộ hồ sơ liên quan đến khoản vay và chuyển về phòng phê duyệt tín dụng khu vực hoặc hội sở thông qua hệ thống mạng. Tại đây toàn bộ hồ sơ sẽ được tái thẩm định và sẽ được hội đồng tín dụng xem xét đối với các khoản tín dụng lớn. Mô hình này được áp dụng tại một số ngân hàng tại Việt Nam như Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng, Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam.
Ưu điểm:
- Tính chuyên môn hóa cao, hạn chế sai sót trong nghiệp vụ.
- Thiết lập và duy trì môi trường phê duyệt tín dụng đồng bộ, phù hợp với quy trình quản lý gắn với hoạt động của các bộ phận kinh doanh.
- Hỗ trợ xây dựng quy trình và nội dung thẩm định tín dụng thống nhất cho toàn hệ thống.
Nhược điểm:
- Ngân hàng sẽ gặp khó khăn nếu có một khối lượng lớn khách hàng đề nghị cấp tín dụng cùng thời điểm.
- Không phân định được rõ ràng trách nhiệm của cá nhân tham gia thẩm định và phê duyệt.
- Đội ngũ cán bộ phê duyệt tín dụng phải có kiến thức cần thiết, gắn kết lý thuyết với thực tiễn, có kinh nghiệm tín dụng lâu năm.
- Đòi hỏi đầu tư nhiều công sức, thời gian và nguồn nhân lực
Tổ chức thẩm định theo phương pháp chuyên môn hóa được đưa ra để kiểm soát hoạt động thẩm định và phê duyệt tín dụng một cách chặt chẽ hơn. Mô hình này hạn chế thẩm quyền phê duyệt tín dụng đối với ĐVKD (đơn vị tiếp xúc trực tiếp với khách hàng). Mô hình này đã phần nào giúp kiểm soát được hoạt động cấp tín dụng, giám sát được các khoản vay có hiệu quả, đồng thời giải phóng thời gian cho ĐVKD để tập trung bán hàng, tìm kiếm khách hàng, đa dạng trong các sản phẩm bán và gia tăng nhanh doanh số.
3.3 Kiểm soát quá trình thẩm định tín dụng khách hàng cá nhân
Thông qua kiểm soát việc thực hiện quy trình thẩm định tín dụng, ngân hàng nhanh chóng xác định những khâu, bước thực hiện còn lỏng lẽo, chưa phù hợp cần điều chỉnh nhằm hạn chế tối đa rủi ro trong việc ra quyết định tín dụng.
Nguyên tắc việc kiểm soát là bộ phận kiểm soát phải có tính độc lập với bộ phận thực thi. Hiện nay, hệ thống ngân hàng thương mại trên thế giới có những mô hình kiểm soát rủi ro tín dụng phố biến là:
3.4 Mô hình kiểm soát rủi ro tín dụng tập trung
Đây là mô hình có sự tách biệt một cách độc lập giữa chức năng quản lý rủi ro và kinh doanh. Trong đó, bộ phận kiểm soát rủi ro được tách ra khỏi sự quản lý của chi nhánh, trực thuộc hội sở chính do Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc quản lý. Định kỳ Bộ phận kiểm soát rủi ro cử cán bộ xuống từng chi nhánh, thực hiện kiểm tra giám sát hoạt động cấp tín dụng tại chi nhánh. Sự tách biệt này giúp Bộ phận kiểm soát rủi ro độc lập với bộ phận bán hàng và không bị chi phối bởi lãnh đạo chi nhánh, nhằm mục tiêu giảm thiểu tối đa rủi ro có thể xảy ra đồng thời phát huy được kỹ năng chuyên môn của từng vị trí cán bộ làm công tác tín dụng ở mức cao nhất.
Ưu điểm:
- Kiểm soát quá trình thẩm định tín dụng một cách hệ thống trên quy mô toàn ngân hàng, đảm bảo tính cạnh tranh lâu dài.
- Thiết lập và duy trì môi trường kiểm soát rủi ro tín dụng đồng bộ gắn với hoạt động của các bộ phận kinh doanh, nâng cao năng lực đo lường, giám sát rủi ro trong quá trình cấp tín dụng.
- Thích hợp với ngân hàng quy mô lớn. Nhược điểm:
- Việc xây dựng và triển khai mô hình kiểm soát tập trung này đòi hỏi phải đầu tu nhiều công sức và thời gian.
- Đội ngũ cán bộ phải có kiến thức cần thiết và biết áp dụng lý thuyết với thực tiễn.
3.5 Mô hình kiểm soát rủi ro tín dụng phân tán
Mô hình này chưa có sự tách bạch rõ ràng giữa chức năng kiểm soát rủi ro và kinh doanh. Trong đó bộ phận kiểm soát rủi ro trực thuộc chi nhánh, kiểm soát rủi ro trên hồ sơ vay tại chi nhánh, cán bộ tín dụng thực hiện vừa bán hàng vừa tác nghiệp và chịu trách nhiệm đối với mọi bước thực hiện một khoản cấp tín dụng.
Ưu điểm:
- Gọn nhẹ.
- Cơ cấu tổ chức đơn giản.
- Thích hợp với ngân hàng quy mô nhỏ. Nhược điểm:
- Quy trình kiểm soát không thống nhất giữa các chi nhánh.
- Bộ phận kiểm soát rủi ro tín dụng trực thuộc chi nhánh nên dễ xảy ra trường hợp thiếu khách quan trong quá trình thẩm định tín dụng.
Xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn hoạt động tín dụng, theo khuyến cáo của Ủy ban Basel và tuân thủ thông lệ quốc tế, căn cứ vào các điều kiện chung về pháp lý, thị trường, công nghệ con người, các ngân hàng thương mại Việt Nam được khuyến nghị nên áp dụng mô hình kiểm soát rủi ro tín dụng tập trung.