1. Khái niệm quyết định hình phạt

Xuất phát từ nhiệm vụ của luật hình sự là bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, nên nhà làm luật phải đề ra những nguyên tắc xử lý khi có tội phạm xảy ra.

Bộ luật hình sự chỉ quy định nguyên tắc xử lý, nhưng không quy định nguyên tắc quyết định hình phạt, bởi vì trong các nguyên tắc xử lý đã bao hàm cả nguyên tắc quyết định hình phạt. Tuy nhiên, khi nghiên cứu quyết định hình phạt, chúng ta không thể không nghiên cứu các nguyên tắc quyết định hình phạt.

Các nguyên tắc quyết định hình phạt được hình thành, trước hết xuất phát từ các nguyên tắc xử lý và các quy định khác của Bộ luật hình sự, nó xác định và có ý nghĩa định hướng cho Tòa án khi áp dụng chế tài hình sự đối với người phạm tội. Như vậy, việc khẳng định các nguyên tắc quyết định hình phạt cũng là một vấn đề có tính lý luận và thực tiễn. Bộ luật hình sự năm 1985 tuy có quy định nguyên tắc quyết định hình phạt (Điều 37), nhưng về lý luận cũng như thực tiễn xét xử cho thấy đó không phải là nguyên tắc quyết định hình phạt, mà đó chỉ là căn cứ quyết định hình phạt. Do đó, Bộ luật hình sự năm 1999 đã quy định nội dung tại Điều 37 Bộ luật hình sự năm 1985 đó là căn cứ quyết định hình phạt chứ không phải là nguyên tắc quyết định hình phạt nữa (Điều 45). Nhưng như vậy, không phải không có nguyên tắc quyết định hình phạt, mà những nguyên tắc quyết định hình phạt chỉ có thể nhận biết được khi chúng ta nghiên cứu nó dưới góc độ lý luận.

Các nguyên tắc quyết định hình phạt tồn tại độc lập và có mối liên hệ mật thiết với các nguyên tắc chung của Bộ luật hình sự, đặc biệt có mối liên hệ mật thiết với nguyên tắc xử lý được quy định tại Điều 3 Bộ luật hình sự. Tính độc lập của nguyên tắc quyết định hình phạt thể hiện ở chỗ: Chế định quyết định hình phạt có những nét đặc thù mà các chế định khác trong Bộ luật hình sự không có. Ví dụ: Nhiều người cùng cố ý thực hiện một tội phạm, nhưng khi quyết định hình phạt Tòa án không thể áp dụng một mức hình phạt chung cho tất cả những người cùng thực hiện, mà phải quyết định hình phạt riêng đốì với từng người. Để bảo đảm việc quyết định hình phạt cụ thể cho từng người đúng pháp luật, Tòa án phải căn cứ vào nhiều nguyên tắc mà một trong những nguyên tắc đó là "cá thể hóa hình phạt".

Các nguyên tắc quyết định hình phạt mang bản chất chính trị xã hội rất đậm nét và do mục đích của hình phạt quyết định các nguyên tắc này. Vì mục đích của hình phạt "không chỉ trừng trị mà còn có giáo dục cải tạo", nên các nguyên tắc được đề ra cũng là nhằm thực hiện mục đích đó, ngược lại, nếu thực hiện đúng các nguyên tắc quyết định hình phạt sẽ có tác dụng to lớn mà mục đích của hình phạt đã đặt ra. Mối quan hệ biện chứng này được thiết lập từ mối quan hệ giữa mục đích của hình phạt với các nguyên tắc quyết định hình phạt.

Nội dung của các nguyên tắc quyết định hình phạt bắt nguồn từ chính sách hình sự, các nguyên xử lý thể hiện được những tư tưởng, những nguyên lý mà Đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam đề ra. Là nguyên tắc, nhưng không phải là~những gì có tính bất biến mà các nguyên tắc quyết định hình phạt, nội dung của nó có thể thay đổi cùng với sự thay đổi, phát triển của kinh tế xã hội, cũng như hoàn cảnh thực tế ở từng địa phương. Ví dụ: khi nói đến nguyên tắc " pháp chế xã hội chủ nghĩa " khi quyết định hình phạt, không có nghĩa là Tòa án áp dụng hình phạt như nhau đối với người phạm tội ở địa phương này như đốì với người khác ở địa phương khác, mà phải xem xét đến tình hình chính trị xã hội ở địa phương xảy ra tội phạm. Khi bàn về pháp chế xã hội chủ nghĩa, Lê-nin đã từng nói: "Là Tòa án địa phương, Tòa án này, một mặt, có trách nhiệm phải triệt để tuân theo những luật pháp duy nhất đã đặt ra cho toàn liên bang, mặt khác, trong khi quyết định hình phạt, có trách nhiệm phải chiếu cố đến tất cả hoàn cảnh địa phương; làm như thế thì, dù cho luật pháp quả thật là đã bị vi phạm trong trường hợp này hay trường hợp khác, Tòa án địa phương vẫn có quyền nói rằng những hoàn cảnh mà mọi người ở địa phương đều biết rõ và đã được trình bày trước Toa án địa phương, làm cho Tòa án nhận thấy cần thiết phải giảm bớt hình phạt đối với những người nào đó, hoặc ngay cả tha bổng họ".

Các nguyên tắc quyết định hình phạt được thể hiện ở nhiều điều khoản trong Bộ luật hình sự (cả phần chung lẫn phần tội phạm), trong đó được thể hiện tập trung nhất là ở Điều 3. Ngoài ra các nguyên tắc quyết định hình phạt còn được thể hiện ở nhiều điều khoản khác của Bộ luật hình sự như: quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự (Điều 47); quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội (Điều 50); quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt (Điều 52); quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm (Điều 53; miễn hình phạt (Điều 54); quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội (khoản 4,5 Điều 69)... đối với phần tội phạm các nguyên tắc quyết định hình phạt được thể hiện ngay trong các cấu thành tội phạm cụ thể, trường hợp nào Tòa án áp dụng khoản 1, khoản 2, khoản 3, hoặc khoản 4... Bộ luật hình sự. Dù được thể hiện ở phần chung hay phần các tội phạm, thì các nguyên tắc quyết định hình phạt bao giờ cũng là những tư tưởng chỉ đạo và định hướng hoạt động xét xử của Tòa án. Những tư tưởng đó trước hết phải là tư tưởng chỉ đạo, phải được thể hiện trong Bộ luật hình sự, định hướng cho việc quyết định hình phạt và phải phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước.

2. Đặc điểm của quyết định hình phạt

Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội là xác định loại và mức hình phạt cụ thể (kể cả hình phạt bổ sung nếu có) trong phạm vi luật cho phép để áp dụng đối với người phạm nhiều tội. Việc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội phải tuân theo nguyên tắc chung và các nguyên tắc đặc thù của quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội. các nguyên tắc chung ở đây bao gồm các nguyên tắc Pháp chế xã hội chủ nghĩa; nguyên tắc nhân đạo; nguyên tắc cá thể hóa hình phạt và nguyên tắc công bằng. Các nguyên tắc đặc thù bao gồm các nguyên tắc: nguyên tắc cộng toàn bộ; nguyên tắc cộng một phân; nguyên tắc thu hút và nguyên tắc cùng tồn tại.

Để thực hiện việc quyết định hình phạt một cách chính xác cần phân biệt rõ quyết định hình phạt trong từng trường hợp phạm nhiều tội với các trường hợp khác như quyết định xử phạt trong trường hợp phạm tội nhiều lần hay trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều bản án.
Việc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội phải tuân theo một trình tự nhất định, các hình phạt đối với từng tội danh phải được xác định riêng rồi sau đó mới được tổng hợp lại với nhau thành một hình phạt chung.
Khi thực hiện việc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, việc tổng hợp hình phạt phải dựa vào quy định của Điều 50 Bộ Luật Hình sự. Trong mỗi trường hợp, mỗi loại hình phạt đều có những các tổng hợp khác nhau dựa trên các nguyên tắc của pháp luật Việt Nam

3. Ý nghĩa của quyết định hình phạt

Việc cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội trong mỗi khung hình phạt tuy đảm bảo tương đối tính khoa học, tính hợp lý và tính khái quát cao; nhưng phán quyết của Tòa án đối với người phạm tội ảnh hưởng tiêu cực đối với con người cụ thể, trực tiếp hạn chế một phân quyền con người, quyền công dân, ảnh hưởng sâu sắc đến tâm lý, ý thức cải tạo của người chấp hành án, ảnh hưởng đến hoạt động của gia đình, ý thức của đa số người thân cũng như những người dân sống trên địa bàn của người đó. Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự nhằm tạo cho Tòa án khả năng lựa chọn trong giai đoạn quyết định hình phạt đối với từng hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải hướng tới mục đích của hình phạt mà mình đã tuyên trong bản án phải đảm bảo hiệu qủa và hài hòa giữa "trừng trị" và "cải tạo, giáo dục", nếu hình phạt được áp đặt cho một trong những mục đích nào đó sẽ làm ảnh hưởng các mục đích khác, sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả và mục đích đây đủ của hình phạt. Trường hợp coi nhẹ tính trừng trị của hình phạt thì có thể dẫn đến hình phạt quá nhẹ, không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, làm giảm tính răn đe, giáo dục đối với người phạm tội, làm lung lay niềm tin của người dân và của phần lớn những người trực tiếp tham gia công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Ngược lại, nếu coi nhẹ tính nhân đạo, tính giáo dục sẽ tạo ra quyết định hình phạt nghiêm khắc dẫn đến tâm lý tiêu cực, phản giáo dục và khó cải tạo đối với người phạm tội. Do vậy, bản án của Tòa án quyết định hình phạt đảm bảo tính nhân đạo, công minh và đúng pháp luật sẽ đạt được mục đích của hình phạt đối với người phạm tội.
Quyết định hình phạt có vai trò vô cùng to lớn, bởi suy cho cùng, các hoạt động tố tụng hình sự trước đó (từ khởi tố, điều tra, truy tố, kể cả việc tranh tụng tại phiên toà) sẽ không có nhiều ý nghĩa nếu Toà án không làm tốt việc quyết định hình phạt. Quyết định hình phạt đúng pháp luật, công bằng và hợp lý là tiền đề, điều kiện để đạt mục đích hình phạt (cải tạo, giáo dục, phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng). Nếu hình phạt quá nhẹ sẽ làm giảm ý nghĩa phòng ngừa của hình phạt, bởi nó có thể làm phát sinh ý định phạm tội, thái độ vô trách nhiệm và coi thường pháp luật. Nhưng hình phạt quá nặng sẽ tạo tâm lý không công bằng, không hợp lý ở người bị kết án dẫn đến thái độ oán hận, không tin tưởng pháp luật. Hình phạt có đạt mục đích hay không và đến mức độ nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó, hai yếu tố quan trọng nhất là yếu tố lập pháp và áp dụng pháp luật (về hình phạt và quyết định hình phạt). Yếu tố áp dụng pháp luật chịu sự ràng buộc của yếu tố lập pháp. Ngược lại, yếu tố áp dụng pháp luật cũng có vai trò rất quan trọng, bởi vì chỉ trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn pháp luật cho từng trường hợp phạm tội cụ thể thì Toà án mới có thể cho ra đời một bản án tuyên hình phạt đúng đắn và có hiệu quả, khi đó, các yếu tố về mặt lập pháp mới có ý nghĩa thực tiễn.
Quyết định hình phạt đúng đắn sẽ có ý nghĩa nâng cao hiệu quả của hình phạt vì hậu quả tiêu cực do quyết định hình phạt tạo ra càng nhỏ thì hiệu quả của hình phạt càng cao, ngược lại quyết định hình phạt đưa đến hậu quả tiêu cực thì hiệu quả của hình phạt càng thấp. Mục đích của hình phạt đảm bảo hiệu quả nếu Tòa án quyết định hình phạt có thể tiết kiệm đến mức thấp nhất yếu tố trấn áp về hình sự khi sử dụng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được quy định trong pháp luật hình sự.

4. Căn cứ quyết định hình phạt

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm:

Thực tiễn xét xử cho thấy, khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện, Toà án cần xem xét các yếu tố sau:

– Hành vi (hành động hay không hành động) nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện;

– Tội phạm được thực hiện dưới hình thức gì (một người đồng phạm hay tội phạm có tổ chức);

– Giai đoạn thực hiện tội phạm (chuẩn bị phạm tội hay phạm tội chưa đạt hay tội phạm hoàn thành);

– Thủ đoạn thực hiện tội phạm, hoàn cảnh, địa điểm, thời gian phạm tội…

– Hậu quả thiệt hại;

– Hình thức lỗi, mức độ lỗi, mục đích, động cơ phạm tội…

Xem xét nhân thân người phạm tội:

Theo Luật hình sự Việt Nam, những đặc điểm về nhân thân có ảnh hưởng trực tiếp đến tội phạm được coi là những đặc điểm mang tính chất pháp lý và được quy định là những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trong hình phạt (như phạm tội lần đầu hay đã có tiền án, tiền sự, tái phạm hay tái phạm nguy hiểm, có tính chất chuyên nghiệp hay không; là ngươi chưa thành niên hay người đã thành niên; có thái độ ăn năn hối cải, lập công chuộc tội hay là ngoan cố không chịu cải tạo…).

Những đặc điểm khác tuy không mang tính chất pháp lý cũng phải được xem xét một cách toàn diện, nếu chúng có tính chất bền vững nói lên bản chất của người phạm tội và có ảnh hưởng nhất định đến hành vi phạm tội. Trong đó phải chú ý đến những đặc điểm có quan hệ đến ý thức chính trị, ý thức lao động, trình độ nhận thức, hiểu biết của người phạm tội (như thành phần, quá trình hoạt động chính trị – xã hội, trình độ văn hoá, nghề nghiệp…), hoặc những đặc điểm có quan hệ đến các đối tượng của chính sách lớn của Đảng và Nhà nước (như người phạm tội thuộc dân tộc ít người; thuộc gia đình liệt sĩ, là nhân sỹ, trí thức có tên tuổi, là chức sắc tôn giáo…).

Ngoài ra còn một số đặc điểm, tuy phản ánh hoàn cảnh thực tế của người phạm tội, nhưng nhiều khi cũng có ý nghĩa quan trọng (như họ đang bị bệnh hiểm nghèo, là người già yếu, là phụ nữ có thai hoặc con nhỏ, hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của bản thân hoặc của gia đình…).

Cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Khi quyết định hình phạt thì Toà án phải cân nhắc đồng thời cả hai loại tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự là những tình tiết làm cho các trường hợp phạm tội cụ thể của một tội phạm khác nhau về mức độ nguy hiểm. Các tình tiết này không có tính chất bắt buộc như những tình tiết định tội và định khung mà chỉ có ý nghĩa khi quyết định hình phạt, có tác dụng làm tăng hoặc giảm hình phạt trong phạm vi một khung hình phạt nhất định. Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự không được ghi trong các điều khoản của Phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự như các tình tiết định tội hoặc định khung nhưng được quy định tại các Điều của Phần chung Bộ luật Hình sự (Điều 46 và Điều 48 Bộ luật Hình sự).

5. Những nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong quyết định hình phạt

- Hạn chế về trình độ, năng lực, trách nhiệm của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân ngành Tòa án Một số không ít Thẩm phán chưa nên cao tinh thần trách nhiệm trong công tác, thiếu thận trọng, chưa tích cực nghiên cứu, học tập để nâng cao trình độ nghiệp vụ nên chưa nắm vững các hướng dẫn áp dụng pháp luật nên áp dụng không đúng các quy định của pháp luật dẫn tới việc xét xử sai... Thực tế hiện nay, rất ít Hội thẩm nhân dân hiểu pháp luật nói chung cũng như có sự hiểu biết sâu sắc về pháp luật thuộc từng lĩnh vực chuyên ngành.

- Thiếu quy định mang tính chất phân hóa, trách nhiệm hình sự đối với quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm nói chung và phạm tội có tổ chức nói riêng.

- Vướng mắc trong việc xác định các giai đoạn thực hiện tội phạm của những người đồng phạm nói chung và phạm tội có tổ chức nói riêng.