1. Đánh bạc online có bị phạt tù không ?

Xin chào Luật Minh Khuê, Em có câu hỏi sau xin được giải đáp: Luật sư giải đáp giúp em: Em của em bị phát hiện đánh bạc trên web trong vụ worldcup nhưng em ấy không cá độ bóng mà chơi bài nhưng bị phát hiện. Mức tiền em ấy gửi qua ngân hàng là 6 triệu đồng thì mức phạt của em ấy sẽ thế nào ạ? Em ấy chưa bị kết tội lần nào và cũng chưa chơi nhiều.
Vậy, đánh bạc online thì có bị phạt tù không ạ ?
Cám ơn luật sư.
Người gửi: be

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999; Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Bộ luật hình sự năm 2015; Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội đánh bạc

Điều 248. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này và Điều 249 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng"

Điểm b, khoản 2, điều 1 Nghị quyết 01/2010/NQ-HD hướng dẫn áp dụng một số quy định tại điều 248, điều 249 của bộ luật hình sự:

"b) Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của em ban lần đánh bạc nào bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 2.000.000 đồng trở lên) thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc đối với lần đánh bạc đó;"

Em của bạn bị phát hiện đánh bạc trên web trong vụ worldcup nhưng không cá độ bóng mà chơi bài nhưng bị phát hiện. Mức tiền em bạn gửi qua ngân hàng là 6 triệu đồng. Vậy em bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1, điều 248 Bộ luật hình sự. Dựa trên quy định này thì dù đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 2 triệu đồng đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự và em bạn không phải là một ngoại lệ. Tùy vào nhân thân và các tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà tòa án sẽ định khung hình phạt thích hợp với hành vi đánh bạc của em bạn!

Trân trọng!

>> Xem thêm:  Kỷ Luật Đảng viên tham gia đánh bạc ? Quy định truy nã tội đánh bạc

2. Mức tiền đánh bạc bị truy cứu trách nhiệm hình sự ?

Tội đánh bạc theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 có một số nội dung đổi mới. Luật Minh Khuê cung cấp một số trường hợp tư vấn một số trường hợp cụ thể sau:

Trả lời:

Tội đánh bạc được quy định tại điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 như sau:

" Điều 321. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng."

Thưa luật sư, xin hỏi: Cách đây 1 tháng tôi đang ở nhà thì chủ nhà chứa bạc gọi tôi đến đánh bạc , khi công an đến bắt tôi chạy được nhưng có gửi bạn tôi 5 triệu đồng , thu được trên chiếu bạc 5 triệu đồng, và khám trên người bạn tôi được 5 triệu .khi bị bắt bạn tôi khai là do tôi gửi. hôm sau tôi ra đầu thú và thành khẩn khai báo .(chưa có tiền án tiền sự . nhân thân tốt . không phải chủ sới bạc lo phải chủ nhà, không sóc cái...) xin hỏi luật sư tội như vậy phải đối diện với mức án như thế nào?

Theo quy định tại điều 231 nêu trên thì hành vi của bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 như sau:

" 1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm."

Việc bạn đầu thú và thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999 như sau:

" Điều 47. Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật

Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án."

Em chào anh chị của công ty luật Minh Khuê. Em tên là N. Hiện giừo em có vấn đề này mong công ty có thể tư vấn giúp em. Mẹ em vì chơi lô đề, cờ bạc nên đã mang sổ hộ khẩu và sổ đỏ của gia dình mang đi cầm cho người ta mà không được sự đồng ý của bố em hay các thành viên trong gia đình. Vậy em xin hỏi là như thế người kia có thể lấy nhà em không, và hiện giờ em nên làm thế nào để giải quyết. Em xin chân thành cảm ơn

Quyền sử dụng đất của hộ gia đình được định đoạt theo quy định sau:

" Điều 109. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ gia đình

1. Các thành viên của hộ gia đình chiếm hữu và sử dụng tài sản chung của hộ theo phương thức thoả thuận.

2. Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý."

Như vậy, mẹ bạn không có quyền sử dụng tài sản chung của hộ gia đình khi chưa được sự đồng ý của các thành viên từ 15 tuổi trở lên. Việc mẹ bạn chơi đánh bạc và vay nợ được xác định là khoản nợ riêng. Bên cho vay không có quyền xử lý với tài sản thuộc sở hữu của hộ gia đình

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi có Chú mới bị bắt vì tội, tổ chứ đánh bạc và thu tiền chiếu . Trong đó khi bị bắt ở chiếu bạc có 9.000.000 đồng và 8 người chơi , nhưng Chú tôi không chơi chỉ thu tiền chiếu . Luật sư cho tôi hỏi như thế bị xử phạt như thế nào . Tôi xin chân thành cảm ơn .

Theo quy định tại nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP thì:

" 3. “Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc” bao gồm:

a) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc;

b) Tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc;

c) Tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc. "

Như vậy, với số tiền thu giữ được xác định dùng để đánh bạc là 9.000.000 đồng thì Chú bạn vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định trên

Thưa luật sư, xin hỏi: Chồng tôi chơi bạc mang theo 200.000. Chỉ tham gia chơi sóc đĩa với vai trò người chơi, không phải cầm cái. Không tham gia từ đầu mà nửa cuộc mới vào chơi thì bị công an bắt. Trên chiếu bạc thu được 17,5 triệu đồng. Chồng tôi chưa có tiền án tiền sự gì trước đó. Vậy chồng tôi khi xử tòa sẽ bị hình thức xử phạt gì Tôi cảm ơn luật sư! Mong sớm nhận hồi âm

Theo quy định tại Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP thì số tiền 17,5 triệu vẫn được xác định là căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc. Cụ thể, hành vi này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 231 Bộ luật hình sự như sau:

" Điều 321. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm."

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi có tham gia đánh bạc trên mạng, chơi casino online ( trò Baccarat) và đã chuyển khoản 3 lần cho nhà cái với số tiền là 200,000 ; 300,000 ; 300,000 tổng số tiền là 800,000 VNĐ ( 3 lần cùng 1 tài khoản ngân hàng). Số tiền thắng cược là 20 triệu nhà cái chuyển cho tôi vào 5 ngân hàng khác nhau mỗi ngân hàng 4 triệu. Với những thông tin như trên tôi có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không ?. Nếu như số tiền thắng cược 20 triệu kia tôi không nhận mà vẫn để trên mạng thì có bị truy cứu không?. Nếu tôi nhận tiền rồi hủy tài khoản ngân hàng thì có bị truy cứu không? Rất mong nhận được câu trả lời từ luật sư. Xin cảm ơn !

Số tiền đánh bạc được xác định là căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự quy định như sau:

" 5. Việc xác định số tiền hoặc giá trị hiện vật của người chơi đề, cá độ và của chủ đề, chủ cá độdùng đánh bạc dưới hình thức chơi số đề, cá độ bóng đá, cá độ đua ngựa... như sau:

5.1. Xác định số tiền hoặc giá trị hiện vật của người chơi đề, cá độ dùng đánh bạc

a) Trường hợp người chơi số đề, cá độ có trúng số đề, thắng cược cá độ thì số tiền mà họ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề, cá độ cộng với số tiền thực tế mà họ được nhận từ chủ đề, chủ cá độ."

Bên cạnh đó, việc đánh bạc nhiều lần nhưng mỗi lần chưa đủ cấu thành tội phạm thì xử lý như sau:

" 2. Khi xác định trách nhiệm hình sự đối với người đánh bạc không được tính tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của tất cả các lần đánh bạc, mà phải căn cứ vào từng lần đánh bạc để xem xét; cụ thể như sau:

a) Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc đều dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (dưới 2.000.000 đồng) và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự (đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm) thì người đánh bạc không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc;"

Như vậy, dù bạn có nhận tiền hay chưa thì tài khoản ngân hàng sẽ chứng minh hành vi chuyển tiền từ chủ tổ chức đánh bạc trả cho bạn và là cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Tội đánh bạc bị tạm giam có được tại ngoại hay không? Có được hưởng án treo không ?

3. Đứng xem đánh bạc có vi phạm pháp luật ?

Xin chào luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi xin được giải đáp: Chồng em có 200000 vnd trên người đứng xem đánh bài, trên bàn bạc khi công an bắt giữ có trên 2 triệu vnd. Vậy em xin hỏi chồng em như thế có vi phạm không, tại sao cơ quan điều tra nâng án chạy tại ngoại là 30 triệu mà chồng em vẫn bị khởi tố ra tòa?
Xin cảm ơn!
Người gửi: N.N

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự 1900.6162

Trả lời:

Khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự 1999; Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung 2009 quy định về tội đánh bạc như sau:

"Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm."

Và Điểm a Khoản 2 Điều 1 Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và Điều 249 của Bộ luật hình sự như sau:

"Khi xác định trách nhiệm hình sự đối với người đánh bạc không được tính tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của tất cả các lần đánh bạc, mà phải căn cứ vào từng lần đánh bạc để xem xét; cụ thể như sau:

a) Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc đều dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (dưới 2.000.000 đồng) và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự (đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm) thì người đánh bạc không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc."

Khoản 3 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP quy định cụ thể tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc, bao gồm:

"a) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc.

b) Tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc.

c) Tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc."

Từ những quy định của pháp luật nêu trên, nếu như không có căn cứ để xác định số tiền mà cơ quan chức năng thu giữ trong người chồng bạn là dùng để đánh bạc thì không được xác định là "tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc". Do đó, không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chồng bạn về tội đánh bạc hay nói cách khác, cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để khởi tố chồng bạn ra Tòa.

Còn đối với hành vi "chạy án tại ngoại" 30 triệu đồng thì đây là hành vi trái pháp luật hình sự. Nếu xem xét có đủ dấu hiệu tội phạm thì bạn có thể làm đơn tố giác tội phạm, đơn tố giác tội phạm có thể được gửi đến cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc cơ quan, tổ chức khác.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

>> Xem thêm:  Viên chức bị khởi tố về hành vi đánh bạc có bị buộc thôi việc ? Mức phạt tiền tội đánh bạc

4. Phải làm sao khi bị ép ký vào giấy nợ khi tham gia đánh bạc ?

Chào Luật Minh Khuê. Em trai em có tham gia đánh bạc bịp và khi bị phát hiện đã bỏ chạy. Hôm sau đi làm thì có người đến tận chỗ làm đưa về và viết giấy nợ 130 tr đồng. Giấy nợ dưới hình thức coi như em trai em vay tiền của người đó và em trai em đã ký vào.
Vậy trường hợp này có thể giải quyết thế nào ạ. Có báo công an được không. Và nếu báo công an thì em trai em có bị tội gì không ?
Rất mong sự tư vấn của anh chị. Em cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn Luật Hình sự: 1900.6162

Trả lời:

Theo như thông tin bạn cung cấp thì em trai bạn có tham gia đánh bạc bịp và khi bị phát hiện đã bỏ chạy. Hôm sau đi làm thì có người đến tận chỗ làm đưa về và viết giấy nợ 130 tr đồng. Giấy nợ dưới hình thức coi như em trai em vay tiền của người đó và em trai em đã ký vào.

Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý có ý thức thể hiện ý chí của các chủ thể quan hệ pháp luật dân sự nhằm xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Giao dịch dân sự là một trong những căn cứ quan trọng và phổ biến nhất làm phát sinh quan hệ pháp luật dân sự. Để một giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật thì giao dịch đó phải đáp ứng được một số các điều kiện do pháp luật quy định. Theo quy định tại Điều 121 Bộ luật dân sự 2005.

Điều 122 quy định về Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự như sau:

"1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định."

Điều 137. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

"1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường."

Căn cứ các quy định của BLDS 2005 thì tuy em trai bạn có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, nhưng nội dung và mục đích của giấy nợ này hoàn toàn trái pháp luật, trái đạo đức xã hôi, không chỉ thế em trai bạn cũng không hoàn toàn tự nguyện ký vào giấy nợ nói cách khác là bị ép ký vào giấy nợ, có thể chứng minh em trai bạn không tự nguyện ký vào giấy nợ bằng cách đưa ra người làm chứng, vết thương trên cơ thể ... Đó là chưa kể đến hình thức của giấy nợ này có đúng pháp luật hay không? Do vậy, theo quy định của BLDS thì giấy nợ này bị vô hiệu.

Ngoài ra, căn cứ điều 135 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về tội cưỡng đoạt tài sản như sau:

“1. Người nào đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Với thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi thì nếu như cơ quan điều tra thấy đủ căn cứ cho rằng em bạn bị đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần khiến em bạn phải ký vào giấy nợ và các điều kiện khác của cấu thành tội cưỡng đoạt tài tài sản thì những người này có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này. Bạn có thể chứng minh với cơ quan công an việc bạn bị ép viết giấy nợ như chúng tôi đã trình bày ở câu trên.

Do đó, em trai bạn có thể làm đơn tố cáo đến cơ quan công an để có biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật và bảo về quyền cũng như lợi ích của mình.

Tuy nhiên, em trai bạn đã trực tiếp tham gia vào việc đánh bạc, nên em bạn có thể bị truy tố trước pháp luật về tội đánh bạc theo quy định của Bộ luật hình sự 1999:

Điều 248 BLHS quy định về tội đánh bạc như sau:

"1. Người nào đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này và Điều 249 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng. "

Nếu đủ các yếu tố cấu thành của tội đánh bạc thì em trai bạn rất có thể sẽ bị truy tố về tội đánh bạc theo quy định của BLHS.

Hy vọng rằng với sự tư vấn của chúng tôi, bạn và gia đình sẽ tìm được hướng giải quyết tốt nhất.

Trường hợp có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp. Chúc bạn thành công!

>> Xem thêm:  Thẩm quyền xử phạt của trưởng công an xã đối với hành vi đánh bạc trái phép ?

5. Đánh bạc bị xử lý như thế nào?

Kính chào công ty luật Minh Khuê,xin phép cho tôi được hỏi về trường hợp cá độ đá banh, bị khép vào tội đánh bạc. Anh A chơi cá độ đá banh trong mùa Euro vừa rồi, nhắn tin qua lại cho nhà cái. Nhà cái bị công an bắt giữ, nên cũng khai luôn anh A. Tang chứng trong điện thoại của anh A bị công an tịch thu.
Tổng số trận cá cược là hơn 30trận, mỗi trận banh từ 1,5 triệu đến 2,5 triệu; có thua có thắng. Anh a bị khép tội đánh bạc theo khoản 1 điều 248 Bộ luật hình sự. Xin hỏi: anh A sẽ bị xử phạt như thế nào. Bị phạt tù hay phạt tiền. Hay cả hai. Cụ thể như thế nào ?
Mong được tư vấn cụ thể giúp ạ. Xin cám ơn.

Luật sư tư vấn:

Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 về tội đánh bạc như sau:

Điều 321. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Theo như thông tin bạn cung cấp, anh A đã tham gia cá cược hơn 30 trận bóng với giá trị mỗi trận từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Căn cứ theo quy định tại Điều 321, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và thông tin bạn cung cấp, chúng tôi chia ra làm 2 trường hợp sau:

Trường hợp 1: Tổng giá trị số tiền tham gia cá cược bóng đá của anh A dưới 50.000.000 đồng

Theo quy định tại khoản 1, điều 321, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Trường hợp 2: Tổng giá trị số tiền tham gia cá cược bóng đá của anh A từ 50.000.000 đồng trở lên

Căn cứ theo quy định tại điểm b, khoản 2, điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, người nào đánh bạc trái phép bằng tiền hoặc hiện vật có giá trị 50.000.000 đồng trở lên thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

Ngoài ra, theo khoản 3, điều 321, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì anh A có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Chơi game bài online với số tiền nạp thẻ lớn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc ?