1. Bị bắt về tội đánh bạc có được hưởng án treo không ?

Thưa Luật sư tôi có bị bắt về tội đánh bạc. Vậy làm sao để tôi được hưởng án treo?

Bị bắt về tội đánh bạc có được hưởng án treo không ?

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 về tội đánh bạc

"Điều 321. Tội đánh bạc
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;
c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
d) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Về việc hưởng án treo:

Bộ luật hình sự tại điều 65 như sau:
"Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.”
Như vậy để xem bạn được hưởng án treo không ta căn cứ vào khung hình phạt của tội đánh bạc có phù hợp với điều kiện hưởng án treo. Bộ luật hình sự quy định khung hình phạt của tội đánh bạc tại điều 321 với mức hình phạt phụ thuộc vào giá trị tiền hay hiện vật dùng để đánh bạc.
Trường hợp 1: Bạn đánh bạc trái phép bằng tiền, hiện vật có giá trị từ 5 triệu đến 50 triệu hoặc nhỏ hơn 5 triệu nhưng đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc rái phép, tổ chức đánh bạc trái phép hoặc chưa được xóa án tích tội đánh bạc trái phép, tổ chức đánh bạc trái phép. Trong trường hợp này bạn có thể được hưởng án treo nếu căn cứ vào nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ Tòa án xét thấy có thể cho hưởng án treo.
Trường hợp 2: chồng bạn thuộc vào một trong các trường hợp tại khoản 2 điều 321. Theo quy định của pháp luật nếu chồng bạn có ít nhất 2 tình tiết giảm nhẹ thuộc các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điều 51 hoặc thuộc vào trường hợp khác quy định tại điều 54 bộ luật này thì có thể được Tòa án quyết định một mức phạt nhẹ hơn khung hình phạt quy định tại khoản này.
Điều 54: Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.

2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.

3. Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại Khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ thất, thù Tòa án có thể quyết định chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.

Điều 51. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;
b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;
c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;
d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;
đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;
e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;
g) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;
h) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;
i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
k) Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;
l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;
m) Phạm tội do lạc hậu;
n) Người phạm tội là phụ nữ có thai;
o) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;
p) Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;
q) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;
r) Người phạm tội tự thú;
s) Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải;
t) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm;
u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;
v) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;
x) Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng.
2. Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.
3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.
Như vậy, Trong trường hợp bạn đánh bạc với giá trị tiền, tài sản dưới 5 triệu và và chưa từng bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc trái phép, tổ chức đánh bạc trái phép hoặc chưa được xóa án tích tội đánh bạc trái phép, tổ chức đánh bạc trái phép thì chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Luật xử phạt vi phạm hành chính (xem thêm: Nghị quyết Số: 01/2010/NQ-HĐTP của Tòa án nhân dân tối cao)
Còn nếu bạn đánh bạc với giá trị như Điều 321 Bộ Luật Hình sự 2015 và thỏa mãn hai trường hợp phân tích ở trên bạn có thể được hưởng án treo theo quy định.

>> Xem thêm:  Phân tích cơ sở pháp lý phán quyết của tòa án ?

2. Phạm tội đánh bạc có được hưởng án treo không?

Theo như bạn trình bày, bác bạn chơi xóc đĩa đây là hành vi đánh bạc trái phép. Số tiền và hiện vật dùng để đánh bạc được xác định theo quy định tại khoản 3 Điều 1 Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP như sau:

Điều 321. Tội đánh bạc
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;
c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
d) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Như vậy, có thể xác định số tiền, hiện vật dùng để đánh bạc ở đây lên tới hơn 500 triệu đồng (dựa trên số tiền của các con bạc và số tiền trên chiếu bạc). Bác bạn phạm tội đánh bạc theo quy định tại khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 :

Như vậy, bác bạn sẽ bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Vấn đề hưởng án treo: Theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 như sau:

Điều 65. Án treo
1. Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
2. Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.
3. Tòa án có thể quyết định áp dụng đối với người được hưởng án treo hình phạt bổ sung nếu trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt này.
4. Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.
5. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

Như vậy nếu như bác bạn đáp ứng được các điều kiện trên thì bác bạn sẽ được hưởng án treo.

>> Xem thêm:  Một số vấn đề về định tội danh trong pháp luật hình sự ?

3. Đánh bạc có được hưởng án treo không ?

Trong trường hợp nào người đánh bạc sẽ được hưởng án treo - Trong trường hợp nào bị phạt tù và mức phạt tiền đối với hành vi đánh bạc là bao nhiêu. Luật Minh Khuê tư vấn quy định của pháp luật về tội danh kể trên:

Đánh bạc có được hưởng án treo không ?

Trả lời:

Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù.
Người bị xử phạt tù có thể được xem xét cho hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:Bị xử phạt tù không quá 03 năm.Có nhân thân tốt.Được coi là có nhân thân tốt nếu ngoài lần phạm tội này, người phạm tội luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc.
Đối với người đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích, người bị kết án nhưng đã được xóa án tích, người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 06 tháng, nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo.
Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.Trường hợp có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.Nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc thường trú có địa chỉ được xác định cụ thể theo quy định của Luật Cư trú mà người được hưởng án treo về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án treo.Nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Những trường hợp không cho hưởng án treoNgười phạm tội là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.Người thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn và đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng đề nghị truy nã.
Người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách; người đang được hưởng án treo bị xét xử về một tội phạm khác thực hiện trước khi được hưởng án treo.
Người phạm tội bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội, trừ trường hợp người phạm tội là người dưới 18 tuổi.Người phạm tội nhiều lần, trừ trường hợp người phạm tội là người dưới 18 tuổi.Người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm.

>> Xem thêm:  Cá độ bóng đá có thể đối diện với hình phạt tù

4. Tư vấn tội đánh bạc khi đang hưởng án treo ?

Thưa Luật sư, Tôi có người nhà bị bắt trong lúc chơi đánh bạc vào mồng 2 tết tức ngày 22/2/2015. Khi công an ập vào thì mọi người đã giải tán nhưng chưa kịp về, trên chiếu bạc lúc đó không có tiền và công an chỉ thu được 58 triệu trên người của 21 đối tượng, khi đó anh tôi đang đứng ngoài cửa thì bị công an kéo vào trong khám xét thì trên người anh tôi chỉ có 2 chiếc điện thoại và không có tiền mặt.

Trong lúc công an điều tra thì mọi người có khai ra anh tôi có chơi nhưng đến bây giờ anh tôi vẫn không nhận là mình chơi. Trước đó anh tôi cũng đã bị kết án 2 năm tù về tội đánh bạc nhưng cho hưởng án treo, trong thời gian hưởng án treo anh tôi có chuyên tâm làm ăn và không chơi cờ bạc dưới bất kỳ hình thức nào, cho đến khi bị bắt thì anh tôi đã trả hết án treo nhưng vẫn còn thời gian thử thách là 2 năm.

Vậy luật sư cho tôi hỏi:

1) trong trường hợp anh tôi vẫn không nhận tội thì tòa sẽ sử ra sao?

2)trong thời gian tạm giam gia đình tôi có được quyền bảo lãnh cho anh tôi tại ngoại hay không?

3) anh tôi sẽ phải chịu khung hình phạt như thế nào, mức án là bao nhiêu tháng tù giam và liệu còn có được hưởng án treo nữa hay không?

4) Trong trường hợp bị định tội thì anh tôi có phải chịu thêm 2 năm tù treo và thời gian thử thách của bản án trước nữa hay không?

Kính mong luật sư giải đáp thắc mắc giúp gia đình tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: chienthang

>> Luật sư tư vấn hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ Bộ luật hình sự 2015 sửa đôie 2017 về tội đánh bạc:

Điều 321. Tội đánh bạc
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;
c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
d) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Như vậy, hiện vật dùng để đánh bạc cũng là căn cứ xác định tội. Ở đây là hai chiếc điện thoại của anh bạn thu được trên người, trong trường hợp anh bạn chứng minh được hiện vật này không dùng để đánh bạc, cũng như là chứng minh được rằng anh bạn không hề đánh bạc thì anh bạn sẽ không phạm tội này. Tuy nhiên việc chứng minh này khá là khó khăn.

Trường hợp cơ quan điều tra chứng minh được anh bạn có hành vi tham gia đánh bạc thì với số tiền và hiện vật này đã đủ cấu thành tội đánh bạc quy định tai điều 248 bộ luật hình sự.

- Theo Nghị quyết số: 01/2010/NQ-HĐTP: Hướng dẫn áp dụng về một số quy định về điều 248, 249 bộ luật hình sự hướng dẫn tội đánh bạc có quy định

"3. “Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc” bao gồm:

a) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc;

b) Tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc;

c) Tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc.

4. Khi xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc cần phân biệt:

a) Trường hợp nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau thì việc xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc đối với từng người đánh bạc là tổng số tiền, giá trị hiện vật của những người cùng đánh bạc được hướng dẫn tại khoản 3 Điều này;.."

- Vấn đề bảo lãnh:

Bảo lãnh là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lãnh.

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì việc bảo lãnh tại ngoại được ghi nhận tại điều 92 về bảo lãnh.

Bị can, bị cáo phạm tội lần đầu; có nơi cư trú rõ ràng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

- Bị can, bị cáo có khả năng về tài chính để đặt bảo đảm theo quy định. Đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần mà không có hoặc không đủ tiền để đặt bảo đảm thì xem xét đến khả năng tài chính của người đại diện hợp pháp của họ;

- Có căn cứ xác định, sau khi được tại ngoại, bị can, bị cáo sẽ có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng và không tiêu huỷ, che giấu chứng cứ hoặc có hành vi khác cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử;

- Việc cho bị can, bị cáo tại ngoại không gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự;

- Bị can, bị cáo không thuộc trường hợp phạm một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người; hành vi phạm tội gây dư luận xấu trong nhân dân….

Như vậy anh bạn đáp ứng được đủ yêu cầu thì sẽ được bảo lãnh tại ngoại.

- Khung hình phạt:

Căn cứ vào khung hình phạt anh bạn có thể bị truy tố ở khoản 2 điều này từ 2-7 năm với tính chất tái phạm. Tuy nhiên khung hình phạt này có thể thay đổi phụ thuộc vào kết luận của cơ quan điều tra.

- Án treo:

Theo khoản 5 Điều 60 BLHS: "Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách thì tòa án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bán án trước và tổng hợp với hình phạt của bán án mới"

Như vậy, anh bạn có thể phải chịu hình phạt của bản án trước đó cộng với hình phạt của bản án mới.

>> Xem thêm:  Tư vấn xử lý hành vi cá cược trên mạng?

5. Phạm tội đánh bạc trong thời gian đang hưởng án treo thì xử phạt như thế nào ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Ông A bị bắt về tội đánh bạc năm 2013 nhưng bỏ trốn. nay đã bắt đươc và bị xử 1 năm 6 tháng tù và phạt hành chính. không biết đã áp dụng luật nào để đưa ra mức án phạt

Phạm tội đánh bạc trong thời gian đang hưởng án treo thì xử phạt như thế nào ?

Trả lời:

Tại Điều 321 Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017, tội đánh bạc được quy định:

Điều 321. Tội đánh bạc
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;
c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
d) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Như vậy, bạn sẽ bị truy tố theo quy đinh tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Chơi game quy đổi từ tiền ra điểm có vi phạm pháp luật không?