- 1. Phạm tội đánh bạc lần 2 bị xử lý như thế nào?
- 2. Khi nào đánh bạc lần 2 bị truy cứu trách nhiệm hình sự?
- 3. Phân biệt đánh bạc lần 2, tái phạm và phạm tội nhiều lần
- 4. Phạm tội đánh bạc lần 2 có được hưởng án treo không?
- 4.1 Trường hợp phạm tội theo khoản 1 Điều 321 có được hưởng án treo không?
- Trường hợp phạm tội theo khoản 2 Điều 321 có được hưởng án treo không?
- 4.2 Đánh bạc lần 2 có phải cứ không được hưởng án treo?
- 4.3 Tòa án thường xem xét những yếu tố nào khi quyết định cho hưởng án treo?
- 5. Câu hỏi thường gặp
- Đánh bạc lần 2 có bắt buộc phải đi tù không?
- Khoản 1 Điều 321 có được hưởng án treo không?
- Khoản 2 Điều 321 có được hưởng án treo không?
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về đánh bạc thì lần sau có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
- Đã được xóa án tích thì đánh bạc lần 2 có bị coi là tái phạm không?
- Đánh bạc online lần 2 có bị xử lý khác với đánh bạc trực tiếp không?
- Đánh bạc bao nhiêu tiền thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự?
- Kết luận
Phạm tội đánh bạc lần 2 là cách gọi phổ biến để chỉ trường hợp một người tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc sau khi đã từng bị xử lý hoặc đã có hành vi đánh bạc trước đó. Tuy nhiên, đây không phải là thuật ngữ pháp lý được quy định trong Bộ luật Hình sự. Trên thực tế, cách gọi này chỉ phản ánh việc hành vi được thực hiện nhiều hơn một lần, trong khi trách nhiệm pháp lý còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giá trị tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc, tiền sự, án tích, thời điểm thực hiện hành vi và các điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Vậy phạm tội đánh bạc lần 2 bị xử lý như thế nào? Có được hưởng án treo hay không? Bài viết dưới đây sẽ phân tích các trường hợp cụ thể dựa trên Điều 321, Điều 52, Điều 53 và Điều 65 Bộ luật Hình sự, đồng thời làm rõ các điều kiện về giá trị tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc, tiền sự, án tích và điều kiện hưởng án treo để giúp xác định đúng trách nhiệm pháp lý trong từng trường hợp.
1. Phạm tội đánh bạc lần 2 bị xử lý như thế nào?
Người phạm tội đánh bạc lần 2 có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, tùy từng trường hợp cụ thể. Theo Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), việc xử lý không căn cứ vào số lần thực hiện hành vi mà dựa trên giá trị tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc, tiền sự, án tích và các tình tiết của vụ án.
Nếu đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 321, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Trường hợp thuộc khoản 2 Điều 321, mức hình phạt có thể lên đến 07 năm tù.
Trên thực tế, việc xử lý người phạm tội đánh bạc lần 2 thường được chia thành ba trường hợp sau:
| Trường hợp | Hướng xử lý |
| Đánh bạc lần 2 nhưng chưa đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự | Tiếp tục bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định. |
| Đánh bạc lần 2 thuộc khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự | Phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. |
| Đánh bạc lần 2 thuộc khoản 2 Điều 321 hoặc có tình tiết định khung | Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm và có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định. |
Để xác định người phạm tội thuộc trường hợp nào, cần xem xét các yếu tố như giá trị tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc, tình trạng tiền sự, án tích và các tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng theo Bộ luật Hình sự. Đây cũng là căn cứ để đánh giá khả năng được hưởng án treo trong từng vụ án.
Các trường hợp này sẽ được phân tích chi tiết trong các mục tiếp theo để làm rõ căn cứ pháp lý, điều kiện áp dụng và hậu quả pháp lý tương ứng.
2. Khi nào đánh bạc lần 2 bị truy cứu trách nhiệm hình sự?
Theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, người thực hiện hành vi đánh bạc sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
- Tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng.
- Tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nhưng trước đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc mà chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
- Tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Như vậy, không phải mọi trường hợp đánh bạc lần 2 đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu người vi phạm chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa có án tích và số tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc chưa đạt ngưỡng truy cứu thì vẫn có thể chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định. Ngược lại, trường hợp đã có tiền sự hoặc án tích liên quan đến hành vi đánh bạc thì dù số tiền đánh bạc dưới 5 triệu đồng vẫn có thể bị khởi tố theo Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Có thể khái quát các căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự như sau:
| Căn cứ | Có bị truy cứu trách nhiệm hình sự? |
| Đánh bạc từ 5 triệu đồng trở lên | Có |
| Đánh bạc dưới 5 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc | Có |
| Đánh bạc dưới 5 triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc, chưa được xóa án tích | Có |
| Đánh bạc dưới 5 triệu đồng, chưa từng bị xử lý và không có án tích | Không, thường bị xử phạt vi phạm hành chính |
Tuy nhiên, việc đã từng đánh bạc hoặc bị xử lý trước đó không đồng nghĩa với việc đương nhiên bị coi là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm. Đây là những khái niệm có điều kiện áp dụng riêng theo Bộ luật Hình sự và có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tình tiết tăng nặng cũng như khung hình phạt. Vì vậy, cần phân biệt rõ đánh bạc lần 2, tái phạm và phạm tội nhiều lần để xác định đúng trách nhiệm pháp lý trong từng trường hợp.
3. Phân biệt đánh bạc lần 2, tái phạm và phạm tội nhiều lần
Đánh bạc lần 2, tái phạm và phạm tội nhiều lần là ba khái niệm có liên quan nhưng không đồng nhất. Trong đó, đánh bạc lần 2 chỉ phản ánh việc một người tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc, còn tái phạm và phạm tội nhiều lần là các khái niệm pháp lý được Bộ luật Hình sự quy định với điều kiện áp dụng và hậu quả pháp lý khác nhau.
Việc phân biệt chính xác các trường hợp này là căn cứ để xác định trách nhiệm hình sự, áp dụng tình tiết tăng nặng và lựa chọn khung hình phạt phù hợp.
Đánh bạc lần 2: Đây là cách gọi phổ biến để chỉ trường hợp một người tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc sau khi đã từng thực hiện hành vi này trước đó. Việc đây là lần vi phạm thứ hai không tự động làm phát sinh trách nhiệm hình sự hoặc bị coi là tái phạm. Hậu quả pháp lý vẫn phải căn cứ vào Điều 321 Bộ luật Hình sự và các quy định liên quan về tiền sự, án tích và tình tiết của vụ án.
Tái phạm: Theo Điều 53 Bộ luật Hình sự, tái phạm là trường hợp người đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do vô ý theo quy định của pháp luật. Đối với tội đánh bạc, người đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc, chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội có thể bị xác định là tái phạm và bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nếu đáp ứng đủ điều kiện luật định.
Phạm tội nhiều lần: Phạm tội nhiều lần là trường hợp một người thực hiện từ hai hành vi phạm tội trở lên, mỗi hành vi đều đủ yếu tố cấu thành cùng một tội danh nhưng các hành vi đó chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp đã được sử dụng làm dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt.
So sánh ba trường hợp:
| Tiêu chí | Đánh bạc lần 2 | Tái phạm | Phạm tội nhiều lần |
| Bản chất | Cách gọi phổ biến, không có quy định pháp lý | Khái niệm pháp lý theo Điều 53 BLHS | Tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS |
| Đã có bản án trước đó | Không nhất thiết | Có | Chưa có |
| Yêu cầu còn án tích | Không | Có | Không |
| Đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự trước đó | Có thể có hoặc không | Có | Chưa |
| Hậu quả pháp lý | Chưa xác định nếu chưa đối chiếu quy định pháp luật | Có thể là tình tiết tăng nặng hoặc căn cứ áp dụng quy định về tái phạm | Là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nếu đủ điều kiện |
Từ bảng so sánh trên có thể thấy, không phải mọi trường hợp đánh bạc lần 2 đều là tái phạm, và cũng không phải mọi trường hợp thực hiện nhiều lần hành vi đánh bạc đều bị coi là phạm tội nhiều lần. Việc xác định đúng bản chất pháp lý của từng trường hợp phụ thuộc vào việc người thực hiện hành vi đã từng bị kết án hay chưa, còn án tích hay không và các lần phạm tội đã bị xử lý hay chưa.
Ví dụ:
- Trường hợp đánh bạc lần 2 nhưng không phải tái phạm: Ông A từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc. Chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, ông A tiếp tục tham gia đánh bạc với số tiền 3 triệu đồng. Mặc dù đây là lần vi phạm thứ hai và số tiền dưới 5 triệu đồng, ông A vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, trường hợp này không phải là tái phạm vì ông A chưa từng bị kết án về tội đánh bạc.
- Trường hợp phạm tội nhiều lần: Ông B tham gia hai vụ đánh bạc độc lập vào các ngày khác nhau, mỗi lần đều sử dụng số tiền đủ để cấu thành tội đánh bạc và cả hai hành vi đều chưa bị phát hiện hoặc chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Khi vụ án được phát hiện, ông B có thể bị áp dụng tình tiết "phạm tội nhiều lần" theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Trường hợp tái phạm: Ông C đã bị Tòa án kết án về tội đánh bạc, chấp hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích. Sau đó, ông C tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc. Trong trường hợp này, nếu đáp ứng các điều kiện theo Điều 53 Bộ luật Hình sự, ông C có thể bị xác định là tái phạm, đồng thời đây là căn cứ để xem xét áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Việc xác định đúng bản chất pháp lý của từng trường hợp có ý nghĩa trực tiếp trong việc áp dụng khung hình phạt, tình tiết tăng nặng và xem xét khả năng được hưởng án treo. Do đó, trước khi đánh giá mức hình phạt đối với người phạm tội đánh bạc lần 2, cần làm rõ người đó thuộc trường hợp vi phạm lại sau xử phạt hành chính, tái phạm, tái phạm nguy hiểm hay phạm tội nhiều lần theo quy định của Bộ luật Hình sự.
4. Phạm tội đánh bạc lần 2 có được hưởng án treo không?
Phạm tội đánh bạc lần 2 vẫn có thể được hưởng án treo nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP). Tuy nhiên, việc đây là lần phạm tội thứ hai thường ảnh hưởng đến việc đánh giá nhân thân và các tình tiết tăng nặng, vì vậy khả năng được hưởng án treo sẽ thấp hơn so với người phạm tội lần đầu, phạm tội đánh bạc lần đầu.
Theo Điều 65 Bộ luật Hình sự, án treo chỉ được xem xét khi người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm và đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán, bao gồm:
- Có nhân thân tốt.
- Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất một tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Không có hoặc không thuộc trường hợp có tình tiết tăng nặng nghiêm trọng.
- Có nơi cư trú hoặc nơi làm việc ổn định.
- Xét thấy không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà vẫn có khả năng tự cải tạo.
4.1 Trường hợp phạm tội theo khoản 1 Điều 321 có được hưởng án treo không?
Có thể. Người phạm tội theo khoản 1 Điều 321 có khung hình phạt cao nhất là 03 năm tù, nên vẫn đáp ứng điều kiện đầu tiên để được xem xét hưởng án treo. Tuy nhiên, Tòa án chỉ chấp nhận khi người phạm tội đồng thời đáp ứng các điều kiện về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ và không thuộc trường hợp phải cách ly khỏi xã hội.
Trường hợp phạm tội theo khoản 2 Điều 321 có được hưởng án treo không?
Thông thường không. Khoản 2 Điều 321 quy định mức hình phạt từ 03 năm đến 07 năm tù. Nếu Tòa án tuyên hình phạt trên 03 năm tù thì người phạm tội không đủ điều kiện để được hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật Hình sự.
4.2 Đánh bạc lần 2 có phải cứ không được hưởng án treo?
Không. Việc phạm tội lần thứ hai không đồng nghĩa với việc đương nhiên bị từ chối án treo. Trên thực tế có thể phân thành các trường hợp sau:
- Đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa từng bị kết án: vẫn có thể được xem xét hưởng án treo nếu thuộc khoản 1 Điều 321 và đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Đã bị kết án nhưng chưa được xóa án tích, tiếp tục phạm tội: có thể bị xác định là tái phạm theo Điều 53 Bộ luật Hình sự. Đây là tình tiết bất lợi khi xem xét điều kiện về nhân thân và khả năng tự cải tạo nên cơ hội được hưởng án treo sẽ rất hạn chế.
- Thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm hoặc bị áp dụng khoản 2 Điều 321: hầu như không đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định hiện hành.
4.3 Tòa án thường xem xét những yếu tố nào khi quyết định cho hưởng án treo?
Ngoài việc đáp ứng các điều kiện luật định, Tòa án còn đánh giá toàn diện các yếu tố của vụ án, bao gồm:
- Nhân thân của người phạm tội.
- Thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
- Việc tự nguyện khắc phục hậu quả hoặc nộp lại số tiền thu lợi bất chính.
- Số lượng và giá trị các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng.
- Khả năng tự cải tạo tại địa phương và mức độ nguy hiểm của hành vi đối với xã hội.
Tóm lại, người phạm tội đánh bạc lần 2 vẫn có thể được hưởng án treo nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo Điều 65 Bộ luật Hình sự và nghị quyết hướng dẫn. Tuy nhiên, nếu hành vi bị xác định là tái phạm, tái phạm nguy hiểm hoặc thuộc khoản 2 Điều 321 thì khả năng được hưởng án treo sẽ rất thấp hoặc không còn đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
Nếu vụ việc đã bị cơ quan công an thụ lý hoặc người thân của bạn đang trong quá trình điều tra, dịch vụ tư vấn qua Zalo trọn vụ việc (540.000 đồng) sẽ giúp bạn được luật sư theo sát từ đầu đến cuối. Luật sư sẽ đánh giá hồ sơ, phân tích các tình tiết có lợi, hướng dẫn chuẩn bị tài liệu và giải đáp mọi vấn đề phát sinh trong suốt quá trình xử lý vụ việc. Liên hệ gửi hồ sơ qua Zalo (click vào đây) hoặc gọi luật sư Lê Minh Trường số 0986.11.66.05.
Dịch vụ bao gồm:
- Trao đổi trực tiếp với luật sư qua Zalo theo vụ việc cụ thể.
- Đánh giá căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 321 Bộ luật Hình sự.
- Phân tích khả năng được hưởng án treo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hướng xử lý phù hợp.
- Hướng dẫn chuẩn bị tài liệu, chứng cứ và giải đáp các vấn đề phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc.
5. Câu hỏi thường gặp
Đánh bạc lần 2 có bắt buộc phải đi tù không?
Không. Người phạm tội đánh bạc lần 2 không đương nhiên bị phạt tù. Tùy từng trường hợp, người vi phạm có thể chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 321 Bộ luật Hình sự. Nếu bị truy cứu trách nhiệm hình sự, Tòa án sẽ căn cứ vào tính chất hành vi, giá trị tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc, tiền sự, án tích và các tình tiết của vụ án để quyết định hình phạt cụ thể.
Khoản 1 Điều 321 có được hưởng án treo không?
Có thể. Người bị xét xử theo khoản 1 Điều 321 vẫn có thể được hưởng án treo nếu mức hình phạt không quá 03 năm tù và đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo Điều 65 Bộ luật Hình sự cùng Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP. Tuy nhiên, việc đã từng vi phạm hoặc có tình tiết tăng nặng sẽ ảnh hưởng đáng kể đến khả năng được Tòa án chấp nhận cho hưởng án treo.
Khoản 2 Điều 321 có được hưởng án treo không?
Thông thường không. Khoản 2 Điều 321 quy định khung hình phạt từ 03 năm đến 07 năm tù. Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên vượt quá 03 năm tù thì người phạm tội không đủ điều kiện để được hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về đánh bạc thì lần sau có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Có thể. Nếu tiếp tục đánh bạc khi chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, ngay cả khi số tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc dưới 5 triệu đồng.
Đã được xóa án tích thì đánh bạc lần 2 có bị coi là tái phạm không?
Không. Một trong những điều kiện để xác định tái phạm là người phạm tội chưa được xóa án tích. Nếu án tích đã được xóa theo quy định của Bộ luật Hình sự thì lần phạm tội sau không bị coi là tái phạm, mặc dù vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự nếu hành vi mới đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Đánh bạc online lần 2 có bị xử lý khác với đánh bạc trực tiếp không?
Có thể. Nếu hành vi đánh bạc được thực hiện thông qua mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội, đây là một trong những căn cứ để áp dụng khung hình phạt tại khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, người đánh bạc online lần 2 có thể phải chịu mức hình phạt nghiêm khắc hơn nếu thuộc trường hợp luật định.
Đánh bạc bao nhiêu tiền thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự?
Theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, người thực hiện hành vi đánh bạc sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi:
- Tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên; hoặc
- Dưới 5.000.000 đồng nhưng đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc mà chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính; hoặc
- Dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Kết luận
Phạm tội đánh bạc lần 2 không đồng nghĩa với việc đương nhiên bị phạt tù, bị coi là tái phạm hoặc không được hưởng án treo. Việc xử lý trong từng trường hợp phải căn cứ vào Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đồng thời xem xét giá trị tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc, tiền sự, án tích, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và điều kiện hưởng án treo theo quy định của pháp luật. Chính vì vậy, người đã từng vi phạm hoặc đang có án tích cần xác định đúng tình trạng pháp lý của mình để đánh giá chính xác trách nhiệm hình sự và khung hình phạt có thể phải đối mặt.
Nếu còn vướng mắc về tội đánh bạc, điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự, khả năng hưởng án treo hoặc các quy định của Bộ luật Hình sự, Quý khách có thể liên hệ Luật Minh Khuê qua tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900.6162 để được đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm tư vấn, giải đáp chi tiết.
Chúng tôi rất hân hạnh khi nhận được sự hợp tác của quý khách hàng. Xin chân thành cảm ơn!