Đạo luật SARBANES-OXLEY (SARBANES-OXLEY ACT) là luật liên bang được ban hành năm 2002 giới thiệu các cải cách quan trọng trong quản trị và báo cáo tài chính công ty. Đạo luật (cũng được gọi Đạo luật Trách nhiệm Công ty) được xem là luật lệ chứng khoán mang tính bao quát nhất kể từ Đạo luật chứng khoán và hối đoái năm 1934, thành lập ủy ban Chứng khoán và Hối đoái và quy định liên bang về ngành chứng khoán. Trong số các điều khoản của nó, Sarbanes-Oxley thành lập cơ quan giám sát gồm năm thành viên độc lập, ủy ban Giám sát Kế toán Công ty Công Cộng (PCOAB), nhằm giám sát việc kiểm toán các báo cáo tài chính của công ty Công; yêu cầu các viên chức tài chính công ty xác nhận tính chính xác của các báo cáo tài chính; yêu cầu các công ty Công chúng xác nhận trong báo cáo hàng năm tính hiệu quả của kiểm soát nội bộ trên báo cáo tài chính; cấm các khoản cho vay-của công ty dành cho giới điều hành và các giám đốc; và yêu cầu cáj công ty có các thủ tục xử lý các than phiền liên quan đến các hoạt động kế toán hay kiểm toán có vấn đề.

 

1. Đạo luật Sarbanes - Oxlet (Sarbanes - Oxley act) là gì? 

Đạo luật Sarbanes - Oxley còn được biết đến với cái tên là Đạo luật Sarbox là luật liên bang quy định những luật căn bản của nghề kế toán, kiểm toán và được ban hành tại Hoa Kỳ vào năm 2002. Đạo luật Sarbox giới thiệu về các cải cách quan trọng trong quản trị và báo cáo tài chính công ty.

Đạo luật Sarbanes - Oxley được gọi tên tiếng việt là Đạo luật Trách nhiệm Công ty, còn được xem là luật lệ chứng khoán mang tính bao quát nhất kể từ Đạo luật chứng khoán và hối đoái năm 1934, thành lập ủy ban Chứng khoán và Hối đoái và quy định liên bang về ngành chứng khoán.

 

2. Mục tiêu chính của đạo luật Sarbanes - Oxley 

Mục tiêu của đạo luật Sarbox đề ra là nhằm bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư bằng cách buộc các công ty đại chúng phải đảm bảo sự minh bạch hơn của các báo cáo, các thông tin tài chính khi công bố. Đồng thời, đạo luật cũng bổ sung thêm các quy định ràng buộc trách nhiệm cá nhân của giám đốc điều hành và giám đốc tài chính đối với độ tin cậy của báo cáo tài chính, bên cạnh đó yêu cầu các công ty đại chúng phải có những thay đổi trong kiểm soát nội bộ, đặc biệt là kiểm soát công tác kế toán. Cụ thể, trong điều khoản đạo luật, Sarbanes - Oxley thành lập cơ quan giám sát gồm năm thành viên độc lập, ủy ban Giám sát Kế toán Công ty Công Cộng (PCOAB), nhằm giám sát việc kiểm toán các báo cáo tài chính của công ty Công; yêu cầu các viên chức tài chính công ty xác nhận tính chính xác của các báo cáo tài chính; yêu cầu các công ty Công chúng xác nhận trong báo cáo hàng năm tính hiệu quả của kiểm soát nội bộ trên báo cáo tài chính; cấm các khoản cho vay của công ty dành cho giới điều hành và các giám đốc; và yêu cầu  công ty có các thủ tục xử lý các than phiền liên quan đến các hoạt động kế toán hay kiểm toán có vấn đề.

Thông qua đạo luật này, vị trí của kiểm toán viên được đặt ở vị trí trung tâm và là cầu nối quan trọng để tạo nên những bản báo cáo tài chính có tính độc lập cao và mức độ tin tưởng cao hơn. 

 

3. Những nội dung chính của đạo luật Sarbanes - Oxley 

Đạo luật Sarbanes - Oxley gồm sáu nội dung chính, bao gồm: 

- Thứ nhất, các giám đốc điều hành, giám đốc tài chính đều phải trực tiếp ký vào các báo cáo tài chính mà công ty ban hành chính thức trước công chúng đầu tư. Các báo cáo này phải đảm bảo tính trung thực nhất về kết quả hoạt động của công ty được ghi nhận trong bản báo cáo đó. Nếu có những sai phạm, thì họ có thể phải ngồi tù.

- Thứ hai, các công ty phải lập ra ban giám sát Kế toán của công ty mình trong đó thẩm quyền đặc biệt quan trọng đó chính là thực hiện chức năng giám sát hoạt động kết toán trong nội bộ của tập đoàn, đồng thời giám sát chặt hoạt động của các công ty kiểm toán cho tập đoàn đó. Một loạt quy định và tiêu chuẩn mới cũng được đưa ra. 

- Thứ ba, các công ty kiểm toán bị rút bớt quyền cung cấp dịch vụ cho khách hàng kiểm toán của mình để đảm bảo họ không bị lợi ích làm lung lay. Nghiệp vụ kiểm toán không được để một tập đoàn duy nhất thực hiện mà phải chia phần việc cho các công ty kiểm toán khác để tránh tình trạng tập trung lợi ích có thể dẫn tới những tiêu cực có thể xảy ra.

- Thứ tư, ban giám đốc công ty không được quyền trực tiếp quyết định số phận của các công ty Kiểm toán làm hợp đồng với họ hay nói cách khác họ không được chọn hay chấm dứt hợp đồng với công ty kiểm toán, mà quyết định này thuộc về ban kiểm toán của công ty.  Ban này sẽ toàn quyền quyết định thuê, không thuê, sa thải  hay không sa thải, chấm dứt hay không chấm dứt hợp đồng với các công ty kiểm toán đó.

- Thứ năm, hàng năm, trong bộ báo cáo hàng năm của các công ty phải có một báo cáo kiểm soát nội bộ về tình hình tài chính, trong đó thể hiện các thông tin, các vấn đề liên quan đến công tác kiểm toán một cách toàn diện. Báo cáo này của công ty phải có sự chứng thực của công ty kiểm toán.

- Thứ sáu, bộ luật đưa ra các hình phạt rất nghiêm khắc nếu vi phạm các quy định về kiểm toán như các tội danh liên quan đến các thay đổi, hủy hồ sơ, tài liệu hay cản trở gây ảnh hưởng pháp lý điều tra có thể bị phạt tù lên đến 20 năm (Mục 802).

Những quy định về điều khoản trong đạo luật Sarbanes - Oxley là hoàn toàn phù hợp trong hoàn cảnh lúc bấy giờ khi mà tính đến những năm 2000, một loạt các vụ bê bối về tài chính và kế toán nổ ra, dẫn đến sự sụp đổ các công ty hàng đầu trên thế giới và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của cộng đồng, trong đó có lỗi của công ty kiểm toán. Nhà nước Hoa Kỳ bắt buộc phải can thiệp vào hoạt động kiểm toán thông qua việc ban hành luật Sarbanes -Oxley với mong muốn mục tiêu là nhằm nâng cao chất lượng và tính minh bạch của báo cáo tài chính, tăng cường trách nhiệm của Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc và kiểm toán viên. 

 

4. So sánh đạo luật Sarbanes - Oxley với chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp

Nội dung các quy định của đạo luật Sarbanes - Oxley có một số khác biệt chủ yếu so với quy định trong chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp nhưng cũng không trái với chuẩn mực đạo đứa nghề như là:

- Thứ nhất, trong khi các quy định trong Luật Sarbanes - Oxley chỉ tập trung vào tính độc lập, còn những nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp khác trong chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp như trung thực khách quan, tư cách nghề nghiệp … không được luật này đề cập.

- Thứ hai, các quy định trong Luật Sarbanes - Oxley rất chặt chẽ, cụ thể và được ban hành dưới dạng những điều cấm và những điều mà kiểm toán viên phải tuân thủ để thể hiện tính độc lập của mình. Nếu kiểm toán viên làm trái những quy định này có nghĩa là họ đã vi phạm pháp luật và phải chịu xử lý về mặt pháp luật. Trong khi các quy định của chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp thường ban hành dưới dạng nguy cơ và biện pháp bảo vệ.

Có thể thấy rõ, Luật Sarbanes - Oxley và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp là hai cách tiếp cận khác nhau đối với lĩnh vực đạo đức nghề nghiệp. Điều đó xuất phát từ nguyên nhân đối với cơ quan quản lý xã hội, kiểm toán không chỉ là phương tiện để đảm bảo độ tin cậy của thông tin mà còn là công cụ giám sát thông tin của xã hội. Còn đối với nghề nghiệp, đạo đức nghề nghiệp là những hướng dẫn giúp các thành viên ứng xử một cách trung thực nhằm đạt được sự tin cậy của xã hội. Từ các vấn đề trên cho thấy khuynh hướng phổ biến hiện nay là luật pháp phải can thiệp vào một số phương diện của nghề nghiệp kiểm toán nhằm tạo sự ổn định xã hội, đặc biệt là ổn định thị trường chứng khoán cũng như đảm bảo quyền và lợi ích cho công chúng. Trong khi đó, chuẩn mực đạo đức nhằm xây dựng hình ảnh lý tưởng của nghề nghiệp để nâng cao sự tín nhiệm của công chúng đối với nghề nghiệp. Việc tồn tại song song hai quy định trên là điều tất yếu khách quan.

Dưới đây là toàn bộ bài viết với nội dung Đạo luật Sarbanes - Oxley (Sarbanes Oxley Act) là gì? do công ty Luật Minh Khuê tổng hợp và biên tập. Hy vọng nội dung cung cấp sẽ hữu ích đối với bạn đọc. Trong quá trình biên tập không thể tránh khỏi những sai sót, chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp từ quý bạn đọc. Xin chân thành cảm ơn!