>> Luật sư tư vấn luật tư vấn pháp luật Dân sự trực tuyến, gọi:  1900.6162

Trả lời:

1. Quy định pháp luật về việc đặt tên cho con

Pháp luật Việt Nam khá chú trọng và quan tâm đến việc đặt tên cho con khi ban hành các quy định xoay quanh việc tuân thủ yêu cầu tên của đứa trẻ khi sinh ra khi đăng kí khai sinh trong một số văn bản chứ không hẳn chỉ là một văn bản duy nhất.

Điểm a khoản 1 Điều 4 Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định về nội dung đăng ký khai sinh gồm có thông tin sau: họ, chữ đệm, tên và dân tộc của trẻ em được xác định theo thỏa thuận của cha, mẹ và được ghi rõ trong Tờ khai đăng ký khai sinh. Trong trường hợp cha, mẹ không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được thì sẽ xác định theo tập quán.

Tương đồng với quy định trên thì Điều 6 Thông tư 04/2020/TT-BTP cũng quy định rằng :

+ Việc xác định họ, dân tộc, đặt tên cho trẻ em phải tuân theo pháp luật và tôn trọng, giữ gìn bản sắc dân tộc, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp của Việt Nam. Việc đặt tên không được quá dài, khó sử dụng.

+ Trường hợp cha, mẹ không thỏa thuận được về họ, dân tộc, quê quán của con khi đăng ký khai sinh thì họ, dân tộc, quê quán của con được xác định theo tập quán nhưng phải bảo đảm theo họ, dân tộc, quê quán của cha hoặc mẹ.

Bên cạnh đó thì khoản 1 điều 26 Bộ luật dân sự năm 2015 cũng có quy định về họ, tên như sau :

+ Cá nhân có quyền có họ, tên (bao gồm cả chữ đệm, nếu có). Họ, tên của một người được xác định theo họ, tên đã đăng ký khai sinh của người đó.

+ Họ của cá nhân được xác định là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha mẹ; nếu không có thỏa thuận thì họ của con được xác định theo tập quán. Trường hợp chưa xác định được cha đẻ thì họ của con được xác định theo họ của mẹ đẻ.

Tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở đó, việc cha mẹ thỏa thuận đặt tên cho con cái phải tuân thủ các điều kiện tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật dân sự 2015 bao gồm :

+ Việc đặt tên bị hạn chế trong trường hợp vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khác hoặc trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này.

+ Tên của công dân Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam; không đặt tên bằng số, bằng một ký tự mà không phải là chữ.

Như vậy, có thể thấy rằng pháp luật Việt Nam đã đưa ra các quy định rất rõ ràng, cụ thể về vấn đề đặt tên cho con khi được sinh ra. Theo đó thì quá trình các bậc cha mẹ hoặc những người đại diện theo pháp luật thực hiện việc đặt tên cho con dựa theo như quy định của pháp luật hiện hành và luôn phải chú ý đến các điều kiện của Luật Quốc tịch năm 2014 và Bộ luật dân sự 2015.

Mấu chốt ở việc đặt tên con đó là quốc tịch của con và nguyên tắc đã là công dân Việt Nam thì tên phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam Tức là khi đăng ký khai sinh cho con trong trường hợp con chung giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài hoặc với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài, nếu cha mẹ thỏa thuận lựa chọn mang quốc tịch Việt Nam cho con thì họ, chữ đệm, tên của trẻ phải tuân thủ theo các quy định là tên con phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam; không đặt tên bằng số, bằng một ký tự không không phải là chữ. Trường hợp không thỏa thuận được về việc lựa chọn quốc tịch cho con thì đứa trẻ vẫn có quốc tịch Việt Nam.

Thực chất, việc Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định cụ thể về đặt tên như vậy là nhằm tạo cơ sở pháp luật đồng bộ cho việc xây dựng, cập nhật và sử dụng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư theo Luật Căn cước công dân năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành kèm theo (gồm các thông tin như: Số định danh cá nhân; họ và tên; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; nơi sinh; chứng minh nhân dân; mã số thuế cá nhân; trình độ học vấn…).

2. Đối chiếu quy định pháp luật để giải quyết tình huống

Đối với trường hợp này, hai vợ chồng bạn đều là công dân Việt Nam và không thuộc trường hợp đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài nên con bạn sinh ra sẽ có quốc tịch Việt Nam. Do vậy, nếu đặt tên cho con mà kèm theo tiếng nước ngoài như bạn nêu - James Tôn Thất là không phù hợp với quy định của pháp luật bởi lẽ như đã nói, tên của công dân Việt Nam phải bằng Tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam; không đặt tên bằng số, bằng ký tự không phải là chữ. Trong khi đó James là tên nước ngoài cho nên nếu bạn đi đăng ký khai sinh cho con bằng tên này thì cán bộ tư pháp sẽ từ chối đăng ký tên khai sinh cho con bạn.

Để có thể đăng ký khai sinh cho trẻ, gia đình anh chị cần phải thay đổi tên con cho phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành, phù hợp văn hóa, bản sắc dân tộc Việt Nam. Ngoài ra, tên của con sẽ gắn liền với con từ khi đăng kí khai sinh đến khi chết đi nên gia đình cân nhắc đặt tên cho con theo tiếng Việt để dễ đọc, dễ viết, tránh tình trạng đọc sai, viết sai ảnh hưởng đến lợi ích của con sau này. 

3. Một số lưu ý khi đặt tên cho con 

Thứ nhất, đặt tên không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự. Hiện nay thì pháp luật chưa có quy định cụ thể về trường hợp xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khác là như thế nào. Còn nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự thì có thể xem quy định tại Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2015.

Thứ hai, đặt tên cho công dân Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam. Quy định này trước đây chưa được đề cập đến tại Bộ luật dân sự 2005 mà mới chỉ được đưa vào Bộ luật dân sự 2015. Đây là điểm mới vô cùng phù hợp trong xu thế hiện nay khi bố mẹ ngày càng muốn đặt tên con theo tên nước ngoài. Người thuộc dân tộc thiểu số có thể mang tên phù hợp với ngôn ngữ của dân tộc mình nhưng khi khai sinh, tên đó phải được phiên âm và viết bằng các chữ cái latinh.

Thứ ba, không đặt tên con bằng số, bằng một kí tự mà không phải là chữ, không đặt tên con quá dài, khó sử dụng. Ví dụ như không đặt tên con là Nguyễn Thị 3; Đoàn Văn &... Về khía cạnh không đặt tên con quá dài thì hiện nay pháp luật cũng chưa có quy định cụ thể về việc bao nhiêu ký tự thì được coi là quá dài, bố mẹ có thể cân nhắc chọn tên vừa phải, càng ngắn gọn bao nhiêu thì càng tốt.

Thứ tư, đặt tên giữ gìn bản sắc dân tộc và truyền thống văn hóa tốt đẹp của Việt Nam. Xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, Việt Nam đã có nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng nhiều thách thức, trong đó có thách thức về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc. Để đảm bảo cho nền văn hóa Việt Nam hòa nhập nhưng không hòa tan một cách thô thiển, mất bản sắc dân tộc, người Việt Nam phải biết giữ gìn văn hóa đặt tên của mình.

Trên đây là toàn bộ thông tin tư vấn của Luật Minh Khuê đến quý khách hàng về vấn đề Đặt tên cho con bao gồm cả tiếng nước ngoài có được không ? Ngoài ra quý khách hàng có thể tham khảo thêm bài viết Đặt tên cho con là Taylor Diệp có hợp pháp không ? để hiểu rõ vấn đề hơn. Nếu còn vướng mắc nào chưa rõ hoặc gặp bất kì vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ khác, bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp nhanh chóng. Rất mong nhận được sự hợp tác của quý khách hàng. Trân trọng!