1. Thế nào là tên quá dài?

 Cá nhân khi sinh ra đã có những quyền cơ bản mà pháp luật công nhận ngay từ khi chào đời, một trong các quyền đó là quyền đối với họ, tên. Pháp luật Việt Nam đã cụ thể hóa: “Cá nhân có quyền có họ, tên. Họ, tên của một người được xác định theo họ, tên khai sinh của người đó”.

Như vậy, pháp luật đã công nhận rằng cá nhân khi sinh ra đều phải có họ, tên, mọi cá nhân đều bình đẳng như nhau đối với quyền này.

Ngoài ra, điều luật này cũng chỉ ra rằng, họ, tên của một cá nhân được xác định theo họ, tên khai sinh của người đó. Thực tế, một đứa trẻ sinh ra có thể có rất nhiều tên gọi: tên khai sinh, tên gọi ở nhà, tên thường dùng… Trong đó, họ và tên được ghi nhận trong giấy khai sinh được xác định là họ và tên có giá trị pháp lý.

Theo quy định tại Điều 26 Bộ luật dân sự năm 2015 thì việc đặt tên bị hạn chế trong trường hợp xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này. Tên của công dân Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam; không đặt tên bằng số, bằng một ký tự mà không phải là chữ.

Có thể thấy trước đây trong dự thảo Bộ luật Dân sự 2015 cũng từng đưa ra đề xuất việc đặt tên không dài quá 25 ký tự. Tuy nhiên, đề xuất này sau đó không được đưa vào Bộ luật Dân sự 2015. Do vậy, với những quy định hiện hành lại không giới hạn độ dài của tên hay cấm việc đặt tên xấu…

Thực tế việc đặt họ tên quá dài có nhiều trường hợp gây khó khăn trong đời sống thực tiễn hoặc cho cơ quan đăng ký hộ tịch và ngay cả người được đặt tên.

Ví dụ như có trường hợp làm thẻ ngân hàng do có họ tên quá dài nên đã bị ngân hàng từ chối mở thẻ ATM, bởi theo quy định khi mở thẻ, độ dài của tên tối đa 26 ký tự (kể cả khoảng trắng). Trong khi với những tên quá dài ngân hàng không thể thực hiện được.

Hoặc những trường hợp trên CMND, bằng lái xe hay các giấy tờ tùy thân khác vì quá dài nên chỉ viết tắt... Do đó việc hướng dẫn theo Thông tư này là phù hợp.

Thế nhưng Thông tư 04/2020/TT-BTP lại không hướng dẫn thế nào là “quá dài” sẽ dẫn đến việc áp dụng tùy tiện của các cán bộ khi thực thi, gây khó khăn cho người dân. Do đó cần thiết phải có quy định giới hạn là bao nhiêu ký tự một cách cụ thể.

2. Không được đặt tên cho con quá dài

Ngày 28/5/2020, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư 04/2020/TT-BTP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch  2014 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015.

Theo đó, nội dung khai sinh cho con được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật hộ tịch, khoản 1 Điều 4 Nghị định 123/2015/NĐ-CP và hướng dẫn sau đây:

- Việc xác định họ, dân tộc, đặt tên cho trẻ em phải phù hợp với pháp luật và yêu cầu giữ gìn bản sắc dân tộc, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp của Việt Nam; không đặt tên quá dài, khó sử dụng.

- Trường hợp cha, mẹ không thỏa thuận được về họ, dân tộc, quê quán của con khi đăng ký khai sinh thì họ, dân tộc, quê quán của con được xác định theo tập quán nhưng phải bảo đảm theo họ, dân tộc, quê quán của cha hoặc mẹ.

Ngoài ra, Thông tư còn quy định chi tiết về việc Đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài; Đăng ký khai sinh cho người đã có hồ sơ, giấy tờ cá nhân; Giấy tờ, tài liệu là cơ sở đăng ký lại khai sinh…

3. Cách xác định họ của trẻ em khi đăng ký khai sinh

Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật dân sự năm 2015 đã đưa ra cách xác định họ của một cá nhân trong ba trường hợp:

- Trường hợp xác định được cha đẻ, mẹ đẻ của cá nhân hoặc chưa xác định được cha đẻ của cá nhân;

- Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận làm con nuôi;

- Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được nhận làm con nuôi.

Đối với trường hợp xác định được cha đẻ, mẹ đẻ của cá nhân hoặc chưa xác định được cha đẻ của cá nhân thì nhà làm luật quy định cách xác định họ của cá nhân dựa trên ba căn cứ: 

+ Theo thỏa thuận giữa cha, mẹ đẻ của cá nhân, khi đó họ của cá nhân là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ;

+ Theo tập quán nếu cha, mẹ đẻ của cá nhân không có thỏa thuận;

+ Theo họ của mẹ đẻ trong trường hợp chưa xác định được cha đẻ.

Đối với trường hợp trẻ em bị bỏ rơi chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận làm con nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo họ của cha nuôi hoặc họ của mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha, mẹ nuôi. Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo họ của người nhận nuôi.

Riêng trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được nhận làm con nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người có yêu cầu đăng ký khai sinh cho trẻ em, nếu trẻ em đang được người đó tạm thời nuôi dưỡng.

Tuy nhiên, việc xác định họ của cá nhân theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 chưa giải quyết triệt để mâu thuẫn trong trường hợp tập quán địa phương cùng điều chỉnh trái với quy định của Bộ luật. Khoản 2 Điều 26 Bộ luật dân sự năm 2015 đã dự liệu trường hợp cha, mẹ không có thỏa thuận thì việc xác định họ của con sẽ dựa trên tập quán. Với mục đích bảo tồn các giá trị văn hóa của dân tộc, nhất là tiếp nối truyền thống và tính kế thừa của các thế hệ trong gia đình và dòng họ thì theo tinh thần của Bộ luật dân sự năm 2015 tập quán sẽ là tập quán lựa chọn họ cha hoặc họ mẹ và không thể có tập quán lựa chọn họ thứ ba. Tuy nhiên trên thực tế, có những tập quán xác định họ của cá nhân không phải họ cha hoặc họ mẹ, ví dụ như: tập quán không đặt họ của người Bana ở Tây nguyên, Bình Định, Phú Yên; người Brâu ở Kontum; người Xơ-đăng ở Kontum; người Mã Liềng huyện Tuyên Hóa (Quảng Bình), Hương Khê (Hà Tĩnh)... Ví dụ, người con trai dân tộc Ba Na thường gọi là Yang Danh, con gái thường gọi là: Thưr, Thớp, Yung, Blui, Aying, Klrot, Blinh, Chơ, Y owu, Nhiêng, Đim, Đech, Njưk... Người Mã Liềng không có họ

Chính sự mâu thuẫn này đã gây khó khăn cho chính những người được hưởng quyền có họ và tên. Nếu một người trong dòng tộc mà không đặt họ theo truyền thống mà tộc đề ra thì có khi bị đuổi khỏi dòng tộc, nhưng đặt theo quy định của dòng tộc thì ra cơ quan hộ tịch không thụ lý giải quyết và công nhận, từ đó quyền nhân thân cơ bản của cá nhân không được bảo vệ.

Việc xác định họ của cá nhân không phải là vấn đề đơn giản ngay cả khi pháp luật có quy định rõ ràng cách xác định họ theo họ của cha hoặc họ của mẹ bởi lẽ họ của một người không chỉ dựa trên các căn cứ pháp lý mà còn bị tác động và chịu sự chi phối của tập quán của địa phương, truyền thống dòng tộc.

Xem thêm: Đặt tên con có bao nhiêu ký tự theo quy định mới?

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Không được đặt tên cho con quá dài  mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.


Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!