1. Bịa đặt, nói xấu người khác có vi phạm pháp luật không?
Trước hết, để trả lời việc bịa đặt, nói xấu người khác vi phạm pháp luật không thì chúng ta phải xem vấn đề, chủ thể tác động, hậu quả và hành vi bịa đặt, nói xấu đó ảnh hưởng đến người khác như thế nào rồi mới có thể đi đến kết luận hành vi bịa đặt, nói xấu người khác là hành vi vi phạm pháp luật được.
Theo quy định tại Điều 34 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Nếu cá nhân có đủ căn cứ cho rằng việc mình bị người khác bịa đặt, nói xấu thì cá nhân đó có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.
Trường hợp các thông tin bịa đặt, nói xấu đó ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì sẽ phải được gở bỏ, cái chính bằng phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ.
Trường hợp không xác định được người đã bịa đặt, nói xấu mình mà thông tin đó ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin đó là không đúng.
Cá nhân bị các thông tin bịa đặt, nói xấu làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin ở trên thì còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.
Như vậy hành vi bịa đặt, nói xấu nói chung là hành vi sai trái, vi phạm pháp luật nếu như các thông tin bịa đặt, nói xấu đó làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín hoặc bất kỳ lợi ích vật chất của người khác thì hành vi bịa đặt, nói xấu là hành vi vi phạm pháp luật. Tùy từng hành vi cụ thể, mức độ nghiêm trọng và thiệt hại (nếu có) mà hành vi bịa đặt, nói xấu đó sẽ bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật.
2. Bịa đặt, nói xấu người khác sẽ bị xử lý như thế nào?
Hành vi bịa đặt, nói xấu người khác nếu đủ yếu tố, căn cứ sẽ bị xử lý vi phạm hành chính hoặc thậm chí có đủ yếu tố cấu thành tội phạm còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh tương ứng.
- Chế tài xử lý vi phạm hành chính với hành vi bịa đặt, nói xấu người khác.
Căn cứ theo Điều 7 của Nghị định số 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 31 tháng 12 năm 2021 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình thì tùy từng hành vi, hình thức của hành vi bịa đặt, nói xấu người khác:
Bịa đặt, nói xấu người khác dưới dưới hành vi khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm, lăng mạ, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của người khác hoặc có hành vi tổ chức, thuê, xúi giục, lôi kéo, dụ dỗ, kích động người khác xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì đối với các hành vi này sẽ bị xử lý vi phạm hành chính với chế tài là phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đồng thời sẽ bị áp dụng biện pháp khác phục hậu quả là buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn. Ngoài ra còn áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc xin lỗi công khai đối với hành vi vi phạm (trừ trường hợp nạn nhân có đơn không yêu cầu). Nếu hành vi đó gây ảnh hưởng mà nạn nhân phải tốn chi phí khám bệnh, chữa bệnh thì còn áp dụng biện pháp buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh.
Nếu có hành vi viết, phát tán, lưu hành tài liệu, hình ảnh có nội dung xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo làm ảnh hưởng đến uy tín của người khác thì sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Với hành vi này sẽ có thể áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, ngoài ra còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn.
Trường hợp các thông tin bịa đặt, nói xấu người khác được thực hiện thông qua mạng xã hội thì theo khoản 1 Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP ngày 03 tháng 02 năm 2029 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử thì với hành vi bịa đặt thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của người khác thì sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Ngoài ra còn bị xem xét áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật theo quy định.
- Chế tài xử lý truy cứu trách cứu hình sự:
Với hành vi bịa đặt, nói xấu người khác nếu đủ yếu tố có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 156 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 với tội vu khống. Cụ thể hành vi bịa đặt, nói xấu người khác sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm nếu thuộc một trong các hành vi sau đây:
- Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
- Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.
Các khoản tăng nặng của tội danh này gồm hai khoản và nặng nhất là phạt tù từ 03 năm đến 07 năm. Ngoài ra người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
- Trong trường hợp hành vi bịa đặt, nói xấu xâm hại danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác thì ngoài các chế tài được quy định như trên thì người bị hại có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình. Giá trị bồi thường thiệt hại sẽ do các bên thỏa thuận dựa trên các chi phí, thu nhập, thiệt hại bị xâm phạm. Trường hợp không thỏa thuận được các bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp bồi thường thiệt hại theo quy định.
3. Dấu hiệu pháp lý về bịa đặt, nói xấu người khác
Dấu hiệu pháp lý của bịa đặt, nói xấu người khác đến từ các mặt của hành vi vi phạm như sau:
- Mặt khách thể: Hành vi bịa đặt, nói xấu người khác trực tiếp xâm phạm đến quyền được pháp luật bảo vệ về danh dự, nhân phẩm và uy tín của cá nhân.
- Mặt khách quan:
Người có hành vi bịa đặt, nói xấu người khác phải biết rõ được hành vi của mình cung cấp các thông tin không đúng sự thật và có thể ảnh hưởng xâm phạm đến các quyền của người khác nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm một mục đích nhất định nào đó. Có thể là nhằm hạ thấp danh dự, uy tín để cạnh tranh buôn bán hoặc cũng có thể nhằm hạ bệ tạo các thông tin không đúng sự thật rồi tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.
Hành vi bịa đặt, nói xấu người khác có thể biểu hiện dưới nhiều dạng hình thức khác nhau như thực hiện trực tiếp qua lời nói, hành động hoặc thông qua các phương tiện truyền thông, mạng xã hội. Nhưng quan trọng nhất những thông tin này phải là các thông tin bịa đặt, tức là không có thật không đúng bản chất của sự việc, con người và hậu quả là ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của người bị bịa đặt, nói xấu.
- Mặt chủ thể: Chủ thể của hành vi này là những người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, đủ 16 tuổi trở lên theo quy định.
- Mặt chủ quan: Người có hành vi bịa đặt, nói xấu người khác thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Tức là họ đã nhận thức được hành vi của mình là trái quy định của pháp luật nhưng vẫn mong muốn thực hiện hành vi để xâm phạm đến người khác.
Quý khách hàng có thể tham khảo bài viết dưới đây để hiểu rõ hơn về tội danh này:
- Nói xấu người khác bị xử lý thế nào? Khi nào phạm tội làm nhục người khác?
- Tội xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác theo quy định của pháp luật hình sự?
Trên đây là bài viết của Luật Minh Khuê, mọi ý kiến trao đổi xin vui lòng liên hệ số Hotline Luật sư tư vấn pháp luật hình sự miễn phí trực tuyến 24/7: 19006162 hoặc địa chỉ email lienhe@luatminhkhue.vn để được trao đổi. Xin chân thành cảm ơn!