1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ai?

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là người không tham gia thực hiện tội phạm hoặc có tham gia, nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự và Tòa án phải xử lý quyền lợi, tài sản của họ vì liên quan đến tội phạm. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thường là: người là chủ sở hữu tài sản, nhưng tài sản đó lại có trong tay người phạm tội; người được người phạm tội cho tài sản, mà tài sản đó có được do hoạt động phạm tội.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền gì?

Căn cư theo khoản 2 Điều 65 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện của họ có quyền:

a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;

b) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

c) Yêu cầu giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật;

d) Tham gia phiên tòa; phát biểu ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi những người tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa;

đ) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;

e) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

g) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình;

h) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

i) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có nghĩa vụ gì?

Theo khoản 3 Điều 65 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có các nghĩa vụ sau:

a) Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

b) Trình bày trung thực những tình tiết liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình;

c) Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

4. Những điểm mới về quy định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 không đưa ra khái niệm người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Điều này dẫn đến vướng mắc trong việc xác định tư cách của người tham gia tố tụng và ảnh hưởng đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã khắc phục hạn chế này và quy định cụ thể khái niệm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cũng như bổ sung thêm một số’ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ.

Theo đó, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cũng được quy định bổ sung một số quyền tương tự như được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ; Yêu cầu giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật; Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình; Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;...

5. Xác định tư cách tham gia tố tụng của bị hại với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án

Ví dụ 1: Do có mẫu thuẫn từ trước, A dùng dao chém B. B hoảng sợ bỏ chạy, A đã ném dao về phía B nhưng vô tình lại ném trúng C là người đi đường. Hậu quả B bị thương tích tỷ lệ 30%, C bị thương tích 9% và C không yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự đối với A. Trường hợp này xác định tư cách tham gia tố tụng của C như thế nào, là bị hại hay là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

Quan điểm thứ nhất cho rằng: A đã có hành vi dùng dao chém B, ném dao về phía B nhưng lại gây thương tích cho C là người đi đường, xác định ý chí chủ quan của A là nhằm cố ý gây thương tích, tổn hại cho sức khỏe của B, không nhằm gây thương tích cho C. Trường hợp này xác định B là bị hại, C là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vì ý chí chủ quan của A không nhằm gây thương tích cho C và C cũng không yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự đối với A nên không thể xác định C là bị hại.

Quan điểm thứ hai cho rằng: A có hành vi dùng dao chém B gây thương tích và ném dao gây thương tích cho C, mặc dù ý chí chủ quan của A nhằm gây tổn hại cho sức khỏe của B, không nhằm gây tổn hại cho sức khỏe của C, nhưng thực tế khách quan buộc B phải nhận thức rằng hành vi dùng dao ném B, ngoài việc có thể gây thương tích cho B, có thể sẽ gây thương tích cho người khác, vì vậy căn cứ vào hậu quả A gây ra phải xác định B và C là bị hại trong vụ án, mới đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho C.

Kết luận: Đồng tình với quan điểm thứ nhất, mặc dù A có hành vi dùng dao chém, ném dao về phía B, gây thương tích cho B và C (người đi đường), tuy nhiên xác định tư cách tham gia tố tụng B là bị hại và C là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Bởi lẽ, ý chí chủ quan của A nhằm gây thương tích cho B, không nhằm gây thương tích cho C, A chỉ vô tình ném dao trúng C. Mặt khác, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác với tỷ lệ thương tật dưới 11% phải có đơn yêu cầu của bị hại thì cơ quan tiến hành tố tụng mới xử lý và xác định tư cách tham gia tố tụng là bị hại. Trường hợp này mặc dù trên thực tế C có bị tổn hại về sức khỏe do A gây ra nhưng C không có yêu cầu xử lý hình sự, vì vậy xác định tư cách của C là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án (liên quan đến vấn đề tiền cấp cứu điều trị cho C) là phù hợp.

Ví dụ 2: A và B có quan hệ là anh em trong gia đình, A mượn B chiếc xe mô tô Exciter để sử dụng. Ngày 23/1/2021 khi A nhậu tại quán C ở huyện Y, A để chiếc xe mô tô bên ngoài không khóa cổ thì bị D lấy trộm, trị giá chiếc xe mô tô Exciter là 30.000.000đ. D bị xử lý về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1, Điều 173 BLHS năm 2015. Trong vụ án này có những quan điểm khác nhau về xác định tư cách bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Xác định tư cách tham gia tố tụng của A là bị hại, B là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, mặc dù A chỉ có quyền chiếm hữu, sử dụng, không có quyền định đoạt chiếc xe mô tô Exciter. Bởi vì trên thực tế A là người đang trực tiếp quản lý và sử dụng hợp pháp chiếc xe Exciter, xe bị mất trộm A phải có trách nhiệm bồi thường tài sản cho B. B tuy là chủ sở hữu chiếc xe mô tô nhưng xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Xác định tư cách tham gia tố tụng của B là bị hại, A là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bởi vì B là chủ sở hữu chiếc xe Exciter, B mới có quyền định đoạt, A chỉ được giao quyền chiếm hữu, sử dụng nhưng không có quyền định đoạt, xe mô tô bị lấy trộm, B bị thiệt hại về tài sản, A không bị thiệt hại về tài sản.

Kết luận: Đồng tình với quan điểm thứ nhất, người đang quản lý hoặc trông giữ hợp pháp tài sản là bị hại trong vụ án hình sự vì thiệt hại của họ là đối tượng tác động trực tiếp của tội phạm, tức là có mối liên hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội với hậu quả của tội phạm gây ra, còn chủ sở hữu tài sản là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

6. Xác định tư cách tham gia tố tụng của nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án

Thực tiễn cho thấy, việc phân biệt và xác định tư cách tố tụng của nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án gặp vướng mắc, có những quan điểm khác nhau.

Ví dụ: A và B là hai quân nhân thuộc đơn vị D. A đánh B gây thương tích cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện quân y C. Sau khi B ra viện, Bệnh viện quân y C đã làm thủ tục thanh toán với Cơ quan bảo hiểm quân đội. A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015. Trường hợp này xác định tư cách tham gia tố tụng của Bệnh viện quân y C và Cơ quan bảo hiểm quân đội như thế nào? Cơ quan nào là nguyên đơn dân sự, cơ quan nào là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án?

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Trường hợp này A phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra đối với B. Luật Bảo hiểm quy định các trường hợp không được chi trả như thiệt hại do tội phạm gây ra như gây tai nạn giao thông, đánh nhau gây thương tích… A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Cố ý gây thương tích và bị kết tội có cơ sở khẳng định trường hợp này việc cứu chữa, điều trị cho B thuộc trường hợp bảo hiểm không chi trả, về nguyên tắc A phải bồi thường cho B nhưng chi phí điều trị đã được Bệnh viện quân y C thanh toán, vì vậy, xác định tư cách tham gia tố tụng của Bệnh viện quân y C là nguyên đơn dân sự, cơ quan bảo hiểm quân đội là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Chi phí mà Bệnh viện quân y C chi trả cấp cứu, điều trị cho B thì A phải bồi hoàn, cần được xem xét lại vì cho đến nay không có quy định ngân sách cấp cho quân y chỉ dùng cho trường hợp bình thường, không dùng cho trường hợp có hành vi vi phạm pháp luật. Hoạt động bảo hiểm và hoạt động bảo đảm quốc phòng cho các cơ sở quân y là khác nhau về bản chất, mục đích và cách chi trả. Cho nên không thể vận dụng Luật bảo hiểm cho hoạt động bảo đảm của các cơ sở quân y. Cơ quan bảo hiểm quân đội đã chi trả số tiền cấp cứu điều trị B cho Bệnh viện quân y C, vì vậy xác định tư cách tham gia tố tụng của Cơ quan bảo hiểm quân đội là nguyên đơn dân sự mới đúng, Bệnh viện quân y C là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

Kết luận: Đồng tình với quan điểm thứ hai, trường hợp trên xác định tư cách tham gia tố tụng của Cơ quan Bảo hiểm quân đội là nguyên đơn dân sự vì bị tội phạm gây thiệt hại gián tiếp (nếu cơ quan Bảo hiểm quân đội có đơn yêu cầu A bồi hoàn tiền cấp cứu điều trị), Bệnh viện quân y C là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vì đã chi trả tiền cấp cứu điều trị cho B (cơ quan bảo hiểu đã thanh toán lại tiền cấp cứu điều trị cho Bệnh viện). Nếu cơ quan bảo hiểm quân đội không có đơn yêu cầu A hoàn lại tiền cấp cứu điều trị B, thì xác định tư cách tham gia tố tụng của cơ quan bảo hiểm quân đội là người làm chứng.

Theo hướng dẫn của Tòa án quân sự Trung ương, việc xác định tư cách tham gia tố tụng đối với trường hợp trên như sau: Nếu Bệnh viện quân y đã làm hồ sơ thanh quyết toán và được Cơ quan Bảo hiểm quân đội duyệt chi thì xác định Cơ quan Bảo hiểm quân đội là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và buộc bị cáo phải hoàn trả lại số tiền này cho cơ quan bảo hiểm quân đội. Trường hợp Bệnh viện quân y đã chi trả và thanh toán tiền chi phí cứu chữa cho bị hại là quân nhân nhưng chưa được cơ quan Bảo hiểm quân đội thanh toán thì vẫn xác định Bệnh viện quân y là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; xác định cơ quan bảo hiểm quân đội là nguyên đơn dân sự nếu có đơn yêu cầu bị cáo bồi hoàn chi phí cấp cứu điều trị.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)