- 1. Khái niệm người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
- 2. Phân loại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
- 3. Quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
- 3.1 Quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan với tư cách là đương sự khi tham gia tố tụng
- 3.2 Quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập
- 3.3 Quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khi tham gia tố tụng không độc lập
Luật sư tư vấn:
Căn cứ quy định của: Bộ luật Dân sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có thể phân tích cụ thể như sau:
1. Khái niệm người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
Những người tham gia tố tụng dân sự bao gồm đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch và người đánh giá tài sản, trong đó đương sự là chủ thể chính của tố tụng dân sự. “Đương sự là trong vụ việc dân sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dân sự". Đương sự trong vụ việc dân sự có thể là cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân, tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (QLNVLQ) hay người yêu cầu giải quyết việc dân sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tham gia tố tụng vào vụ án dân sự đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình khi việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ. Việc tham gia tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự có thể do họ chủ động, theo yêu cầu của đương sự khác hoặc theo yêu cầu của tòa án:
- Trường hợp thứ nhất, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quanchủ động tham gia tố tụng. Nghĩa là, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, họ biết việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi hợp pháp của họ nhưng không có được sự đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng hoặc Tòa án không đưa họ vào tham gia tố tụng trong vụ án thì họ có quyền đề nghị Tòa án xem xét đưa họ tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trường hợp này cũng phải được Tòa án chấp nhận.
- Trường hợp thứ hai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do đương sự đề nghị. Nghĩa là, khi nộp đơn khởi kiện, nguyên đơn ghi tên của họ vào trong đơn khởi kiện tại mục người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Hoặc trong quá trình giải quyết, đương sự trong vụ án đề nghị Tòa án đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trường hợp đương sự đề nghị thì phải được Tòa án chấp nhận.
- Trường hợp thứ ba, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do Tòa án đưa vào tham gia tố tụng. Đây là trường hợp khi giải quyết vụ án không đương sự nào đề nghị đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng hoặc không có ai đề nghị Tòa án đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
2. Phân loại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bao gồm hai loại:
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập với nguyên đơn và bị đơn. Trong trường hợp này, quyền, lợi ích của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tách riêng, độc lập và không phụ thuộc với những yêu cầu của đương sự khác tham gia tố tụng. Thông thường họ cho đối tượng hay phần đối tượng tranh chấp giữa nguyên đơn, bị đơn là thuộc về mình. Vì vậy người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đủ điều kiện pháp lý để khởi kiện vụ án dân sự riêng, nhưng do vụ án phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn, nên việc tham gia vào vụ án dân sự giữa nguyên đơn và bị đơn tạo điều kiện thuận lợi cho việc Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng không độc lập là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng phụ thuộc vào nguyên đơn hoặc bị đơn do lợi ích pháp lý của họ phụ thuộc vào lợi ích pháp lý của nguyên đơn hoặc bị đơn. Tuy vậy, khi tham gia tố tụng họ vẫn có quyền quyết định trong phạm vi quyền lợi của họ.
3. Quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
3.1 Quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan với tư cách là đương sự khi tham gia tố tụng
Quyền và nghĩa vụ của đương sự được thể hiện ở các lĩnh vực sử dụng các biện pháp pháp lý để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trước Tòa án; quyết định quyền, lợi ích của mình trong tố tụng dân sự; thi hành bản án, quyết định của Tòa án, thực hiện các yêu cầu của Tòa án; khiếu nại, tố cáo các hành vi trái pháp luật của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình tố tụng. Việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự có ý nghĩa nhất định đối với quá trình giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự.
Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sư 2015 quy định các đương sự có quyền và nghĩa vụ ngang nhau khi tham gia tố tụng. Theo đó các đương sự có quyền và nghĩa vụ như:
- Các đương sự khi tham gia tố tụng có quyền: Giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu theo quy định của Luật; Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình; Đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ việc mà tự mình không thể thực hiện được; đề nghị Tòa án yêu cầu đương sự khác xuất trình tài liệu, chứng cứ mà họ đang giữ; đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, quyết định việc định giá tài sản; Được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập trừ tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 BLTTDS 2015; Đề nghị Tòa án quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, nhận thông báo hợp lệ để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình, tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật này.
- Các đương sự khi tham gia tố tụng có nghĩa vụ: Tôn trọng Tòa án, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa; Nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí và chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật; Chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; Sử dụng quyền của đương sự một cách thiện chí, không được lạm dụng để gây cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án, đương sự khác; trường hợp không thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu hậu quả theo quy định của BLTTDS 2015, Tham gia phiên tòa, phiên họp theo quy định của Bộ luật này. Phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và chấp hành quyết định của Tòa án trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc.
Ngoài ra, điều 74 BLTTDS 2015 còn quy định về việc thừa kế quyền khi đương sự là cá nhân chết, đương sự là tổ chức, cơ quan bị chấm dứt hoạt động hoặc giải thể, sát nhập, chia, tách, hợp nhất, chuyển đổi hình thức, thay đổi chủ sở hữu. Cụ thể:
1. Trường hợp đương sự là cá nhân đang tham gia tố tụng chết mà quyền, nghĩa vụ về tài sản của họ được thừa kế thì người thừa kế tham gia tố tụng.
2. Trường hợp đương sự là cơ quan, tổ chức đang tham gia tố tụng phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức thì việc kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của cơ quan, tổ chức đó được xác định như sau:
a) Trường hợp tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh thì cá nhân, tổ chức là thành viên của tổ chức đó hoặc đại diện của họ tham gia tố tụng;
b) Trường hợp cơ quan, tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể là cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, doanh nghiệp nhà nước thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó hoặc đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức tiếp nhận các quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó tham gia tố tụng;
c) Trường hợp tổ chức hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức thì cá nhân, tổ chức tiếp nhận quyền, nghĩa vụ của tổ chức đó tham gia tố tụng.
3. Trường hợp thay đổi chủ sở hữu của tổ chức và có việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ cho chủ sở hữu mới thì chủ sở hữu mới kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng.
4. Trường hợp tổ chức được chuyển giao quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về dân sự thì tổ chức đó kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng.
5. Trường hợp tổ chức không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự mà người đại diện đang tham gia tố tụng chết thì tổ chức đó phải cử người khác làm đại diện để tham gia tố tụng; nếu không cử được người đại diện hoặc tổ chức đó phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể thì các cá nhân là thành viên của tổ chức đó tham gia tố tụng.
Có thể hiểu một cách khái quát, tất cả quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự được chủ thể kế thừa tiếp nối và thực hiện, người kế thừa tố tụng đó không nhân danh chính mình mà nhân danh đương sự đã chết (đối với đương sự là cá nhân). Quy định này nhằm đảm bảo tốt nhất lợi ích cho đương sự, giúp quá trình tố tụng không bị gián đoạn, tránh trường hợp còn nhiều án tồn đọng.
3.2 Quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập
Theo quy định tại Điều 73 BLTTDS, nếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quancó yêu cầu độc lập mà yêu cầu độc lập này có liên quan đến việc giải quyết vụ án thì họ có quyền, nghĩa vụ tương tự nguyên đơn. Ngoài ra họ còn có quyền khởi kiện vụ án khác nếu yêu cầu độc lập của họ không được Tòa án chấp nhận để giải quyết trong một vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu độc lập khi đáp ứng các điều kiện:
- Việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ.
- Yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết.
- Yêu cầu của họ được giải quyết trong cùng một vụ án làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.
Yêu cầu độc lập này phải được đưa ra trước thời điển mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Nếu yêu cầu được đưa ra sau thời điểm này thì sẽ không được chấp nhận, và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sẽ được hướng dẫn sang một vụ án khác. Sở dĩ có quy định này là do nếu quy định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước khi tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử như trước đây, có trường hợp tòa án đã tiến hành hòa giải xong vụ án các đương sự mới đưa ra yêu cầu độc lập. Lúc này, tòa án lại phải tiến hành thủ tục xác minh, thu thập chứng cứ và hòa giải riêng đối với yêu cầu cầu độc lập, sẽ khiến cho thời hạn giải quyết vụ án bị kéo dài, ảnh hưởng đến thời gian của cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. Quy định này đã giúp cho việc giải quyết vụ án chủ động và hợp lý hơn.
3.3 Quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khi tham gia tố tụng không độc lập
Trong trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc chỉ có quyền lợi thì có quyền và nghĩa vụ tương đương nguyên đơn, nếu tham gia tố tụng cùng với bên bị đơn hoặc chỉ có nghĩa vụ thì có quyền và nghĩa vụ tương ứng với bên bị đơn. Nguyên đơn và bị đơn khi tham gia vụ án dân sự đều có các quyền, nghĩa vụ của đương sự quy định tại Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ngoài ra, nguyên đơn có quyền và nghĩa vụ riêng như thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện; rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.