1. Văn bản giấy và thông điệp dữ liệu là gì?
Văn bản giấy là một trong những văn bản vô cùng phổ biến hiện nay. Và có thể hiểu văn bản giấy theo nhiều cách khác nhau, nếu cần đưa ra một định nghĩa thế nào là một văn bản giấy thì các bạn có thể hiểu văn bản giấy chính là một tài liệu được viết hoặc in ra trên giấy thường được sử dụng để truyền đạt thông tin, ý kiến, hoặc các loại dữ liệu khác nhau. Điều này có thể bao gồm văn bản chữ viết tay, văn bản in ấn, bản sao chép của tài liệu, hợp đồng, thư từ, sách, báo cáo, hồ sơ, và nhiều loại tài liệu khác. Văn bản giấy có thể được sử dụng cho mục đích giao tiếp, lưu trữ thông tin, chia sẻ kiến thức, và nhiều mục đích khác tùy thuộc vào nội dung và ngữ cảnh sử dụng.
Nếu như nhắc đến thông điệp dữ liệu thì ban đầu chúng ta thường nghĩ đến việc là ám chỉ đến thông tin hoặc dữ liệu được gửi từ nguồn tới đích thông qua một phương tiện truyền thông như mạng máy tính, giao thức truyền thông, hoặc các phương tiện truyền thông khác. Trong ngữ cảnh của mạng máy tính và truyền thông, thông điệp dữ liệu thường là gói dữ liệu nhỏ được đóng gói và gửi qua mạng từ một máy tính hoặc thiết bị tới một máy tính hoặc thiết bị khác. Các giao thức mạng sẽ đảm nhận việc đóng gói, gửi và nhận các thông điệp dữ liệu, đảm bảo rằng dữ liệu được truyền tải một cách đáng tin cậy và hiệu quả.
Tuy nhiên thì hiện nay chúng ta có thể thấy rõ rằng thông điệp dữ liệu là một thuật ngữ được quy định cụ thể trong Luật giao dịch điện tử 2005 và tiếp sau đây là Luật giao dịch điện tử 2023. Cụ thể thì thông điệp dữ liệu chính là thông tin được tạo ra, được gửi, được nhận, được lưu trữ bằng phương tiện điện tử.
2.Chuyển đổi hình thức giữa văn bản giấy và thông điệp dữ liệu
Luật Giao dịch điện tử 2023 bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01 tháng 04 năm 2024 thì có quy định về chuyển đổi hình thức giữa văn bản giấy và thông điệp dữ liệu.
Theo đó thì thông điệp dữ liệu chuyển đổi thì cần phải đáp ứng được các yêu cầu cơ bản sau đây:
- Thứ nhất là thông tin trong thông điệp dữ liệu được bảo đảm toàn vẹn như văn bản giấy. Tức là khi mà thực hiện việc chuyển đổi hình thức giữa văn bản giấy sang thông điệp dữ liệu thì cần phải thực hiện chuyển đổi sao cho đảm bảo được toàn vẹn các nội dung được thể hiện trong văn bản giấy.
- Thứ hai đó là thông tin trong thông điệp dữ liệu thì có thể truy cập và sử dụng được để tham chiếu.
- Thứ ba là cần có ký hiệu riêng xác nhận đã được chuyển đổi từ văn bản giấy sang thông điệp dữ liệu và thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện chuyển đổi. Tức là khi thực hiện chuyển đổi giữa văn bản giấy và thông điệp dữ liệu cần phải có ký hiệu riêng để có thể xác nhận là đã được chuyển đổi sang thông điệp dữ liệu và có thêm thông tin của cơ quan tổ chức, cá nhân thực hiện việc chuyển đổi. Đây là hai thông tin không thể nào thiếu khi mà thực hiện chuyển đổi văn bản giấy sang thông điệp dữ liệu.
- Thứ tư là quy định là trường hợp văn bản là giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ, văn bản xác nhận, văn bản chấp thuạn khác mà do cơ quan tổ chức có thẩm quyền phát hành thì việc chuyển đổi cần pháp đáp ứng được các quy định về đảm bảo nội dung đầy đủ như văn bản giấy, có thể truy cập và sử dụng tham chiếu cũng như là có ký hiệu xác nhận và cá nhân thực hiện chuyển đổi. Ngoài ra thì cần phải có chữ ký số của cơ quan,tổ chức thực hiện chuyển đổi và chỉ ngoại trừ đối với trường hợp pháp luật có quy định khác. Hệ thống thông tin phục vụ cho chuyển đổi thì cần phải có tính nắng chuyển đổi từ văn bản giấy sang thông tin dữ liệu.
Đối với việc thực hiện chuyển đổi từ thông điệp dữ liệu sang văn bản giấy. Theo đó thì khi mà thực hiện chuyển đổi thì cần phải đáp ứng được các thông tin cơ bản như sau:
- Đầu tiên thì thông tin trong văn bản thì cần phải được bảo đảm một cách toàn vẹn khi thực hiện chuyển đổi. Giống như là chuyển đổi từ văn bản giấy sang thông điệp dữ liệu thì khi từ thông điệp dữ liệu sang văn bản giấy thì cần phải đảm bảo được sự toàn vẹn của những nội dung thông tin như trên thông điệp dữ liệu. Đây là điều vô cùng quan trọng bởi nó đảm bảo tính chính xác và đầy đủ thông tin nội dung được thực hiện chuyển đổi và không mất đi giá trị của văn bản được thực hiện chuyển đổi theo quy định pháp luật đưa ra.
- Cần có thông tin để xác định được hệ thống thông tin và chủ quản hệ thống thông tin tạo lập, gửi nhận, lưu trữ thông điệp dữ liệu gốc để tra cứu thông tin.
- Cũng giống như là thực hiện chuyển đổi từ văn bản giấy sang thông điệp dữ liệu thì từ thông điệp dữ liệu sang văn bản giấy thì cũng cần phải có ký hiệu xác nhận, và thông tin của cơ quan, tổ chức cá nhân thực hiện việc chuyển đổi.
- Trong trường hợp đặc biệt là thông điệp dữ liệu là chứng thư điện tử thì việc thực hiện chuyển đổi từ thông điệp dữ liệu sang văn bản giấy thì cần phải đáp ứng được các điều kiện cơ bản khi mà thực hiện chuyển đổi từ thông điệp dữ liệu sang văn bản giấy. Và cần phải có chữ ký, con dấu của cơ quan tổ chức thực hiện việc chuyển đổi theo quy định của pháp luật. Hệ thống thông tin phục vụ chuyển đổi phải có tính năng chuyển đổi từ thông điệp dữ liệu sang văn bản giấy.
3. Giá trị của thông điệp dữ liệu
Gía trị của thông điệp dữ liệu là một trong những vấn đề quan trọng. Theo đó thì Luật Giao dịch điện tử cũng quy định rất cụ thể về giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu. Do đó thì có thể thấy những giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu như sau:
- Đầu tiên là thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì thông tin đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu. Tức là dù thông tin được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu thì đều có giá trị pháp lý, chỉ cần những thông điệp dữ liệu thể hiện rõ và đầy đủ các nội dung theo quy định.
- Thông điệp dữ liệu thì có giá trị pháp lý như một văn bản. Theo đó thì trong trường hợp mà pháp luật yêu cầu thông tin phải được thể hiện bằng văn bản thì thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng yêu cầu này nếu như mà thông tin chứa trong thông điệp dữ liệu đó có thể truy cập và sử dụng để tham chiếu khi mà thấy cần thiết.
- Thông điệp dữ liệu có giá trị như bản gốc nếu như mà thông điệp dữ liệu có thể đáp ứng được các điều kiện cụ thể như là nội dung thông điệp dữ liệu phải bảo đảm toàn vẹn kể từ khi được khởi tạo lần đầu tiên dưới dạng một thông điệp dữ liệu hoàn chỉnh. Nội dung của thông điệp dữ liệu sẽ được xem là toàn vẹn nếu như nội dung đó chưa bị thay đổi. Tuy nhiên thì có ngoại trừ đối với những thay đổi về hình thức phát sinh trong quá trình gửi, lưu trữ hoặc hiển thị thông điệp dữ liệu. Bên cạnh đó thì thông điệp dữ liệu có giá trị như bản gốc nếu như mà nội dung của thông điệp dữ liệu có thể truy cập và sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh khi mà cần thiết.
- Vậy thì không điệp dữ liệu có giá trị làm chứng cứ hay không. Theo quy định thì thông điệp dữ liệu sẽ không bị phủ nhận giá trị dùng làm chứng cứ chỉ vì nó là một thông điệp dữ liệu. Gía trị chứng cứ thì nó được xác định vào độ tin cậy của cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc là thực hiện việc truyền gửi thông điệp dữ liệu; Các chức bảo đảm và duy trì được tính trọn vẹn của các thông điệp dữ liệu; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác.
Trên đây là những giá trị nhất định của thông điệp dữ liệu, về cơ bản thì thông điệp dữ liệu thì có giá trị như một văn bản thông thường.
Tham khảo thêm: Điểm mớ của luật giao dịch điện tử 2023
Vui lòng liên hệ 19006162 hoặckh lienhe@luatminhue.vn để có thêm thông tin hữu ích.