Mục lục bài viết
1. Cổ đông trong công ty cô phần có các nghĩa vụ gì?
Điều 119 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định về nghĩa vụ của cổ đông như sau: "Thanh toán đủ và đủng thời hạn sổ cổ phần cam kết mua. Không được rút vốn đã góp bằng cổ phần phổ thông ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ trường hợp được công ty hoặc người khác mua lại cổ phần. Trường hợp có cổ đông rút một phần hoặc toàn bộ vốn cổ phần đã góp trải với quy định tại khoản này thì cổ đông đó và người có lợi ích liên quan trong công ty phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi giả trị cổ phần đã bị rút và các thiệt hại xảy ra. Tuân thủ Điều lệ công ty và quy chế quản lý nội bộ của công ty. Chấp hành nghị quyết, quyết định của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị. Bảo mật các thông tin được công ty cung cấp theo quy định tại Điều lệ công ty và pháp luật; chỉ sử dụng thông tin được cung cấp để thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; nghiêm cam phát tán hoặc sao, gửi thông tin được công ty cung cẩp cho tổ chức, cá nhân khác.Nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty."
Theo đó, điều luật này quy định cổ đông trong công ty cổ phần có 06 nhóm nghĩa vụ như sau: Thanh toán đủ và đúng thời hạn số cổ phần cam kết mua; không được rút vốn đã góp bằng cổ phần phổ thông ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ trường hợp được công ty hoặc người khác mua lại cổ phần. Trường hợp có cổ đông rút một phần hoặc toàn bộ vốn cổ phần đã góp trái với quy định tại khoản này thì cổ đông đó và người có lợi ích liên quan trong công ty phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi giá trị cổ phần đã bị rút và các thiệt hại xảy ra; tuân thủ Điều lệ công ty và quy chế quản lý nội bộ của công ty; chấp hành nghị quyết, quyết định của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị; bảo mật các thông tin được công ty cung cấp theo quy định tại Điều lệ công ty và pháp luật; chỉ sử dụng thông tin được cung cấp để thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; nghiêm cấm phát tán hoặc sao, gửi thông tin được công ty cung cấp cho tổ chức, cá nhân khác; nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.
Như vậy, điều luật trên đã bổ sung khoản 5 về nghĩa vụ bảo mật các thông tin được công ty cung cấp của cổ đông. Điều luật này đã quy định rõ trách nhiệm của cổ đông trong việc bảo mật các thông tin mà cô đông có quyền được xem xét, tra cửu, trích lục từ công ty tránh việc cô đông lạm dụng quyền của mình được luật trao, gây thiệt hại cho công ty và cổ đông khác.
2. Công ty cổ phần muốn chào bán trái phiếu riêng lẻ thì phải đáp ứng các điều kiện gì?
2.1 Khái quát chung
Điều 128 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định về chào bán trái phiếu riêng lẻ như sau: Công ty cổ phần không phải là công ty đại chủng chào bán trái phiếu riêng lẻ theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. Chào bán trái phiếu riêng lẻ của công ty đại chúng, các tổ chức khác và chào bản trái phiêu ra công chủng thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán. Chào bán trái phiếu riêng lẻ của công ty cổ phần không phải là công ty đại chủng là chào bán không thông qua phương tiện thông tin đại chúng cho dưới 100 nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và đáp ứng điều kiện về đối tượng mua trái phiếu riêng lẻ như sau: Nhà đầu tư chiến lược đối với trái phiếu chuyển đổi riêng lẻ và trái phiếu kèm theo chứng quyên riêng lẻ;Nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp đối với trái phiếu chuyển đổi riêng lẻ, trái phiếu, kèm theo chứng quyên riêng lẻ và loại trái phiếu riêng lẻ khác.
2.2 Điều kiện chào bán trái phiếu riêng lẻ
Công ty cổ phần không phải là công ty đại chúng chào bán trải phiếu riêng lẻ phải đáp ứng các điêu kiện sau đây: Công ty đã thanh toán đủ cả gốc và lãi của trái phiếu đã chào bán và đã đến hạn thanh toán hoặc thanh toán đủ các khoản nợ đến hạn trong 03 năm liên tiếp trước đợt chào bán trái phiếu (nếu có), trừ trường hợp chào bán trái phiếu cho các chủ nợ là tổ chức tài chính được lựa chọn; Cỏ báo cáo tài chỉnh của năm trước liền kề năm phát hành được kiểm toán; Bảo đảm điều kiện về tỷ lệ an toàn tài chính, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động theo quy định pháp luật; Điều kiện khác theo quy định của pháp luật có liên quan.
- Theo đó, chào bán trái phiếu riêng lẻ trong công ty cổ phần được chia làm 02 trường hợp: chào bán trái phiếu riêng lẻ của công ty cổ phần là công ty đại chúng và chào bán trái phiếu riêng lẻ của công ty cồ phần không phải là công ty đại chúng.
+ Việc chào bán trái phiếu riêng lẻ của công ty đại chúng, các tổ chức khác và chào bán trái phiếu ra công chúng thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán.
+ Việc chào bán trái phiếu riêng lẻ của công ty cổ phần không phải là công ty đại chúng là chào bán không thông qua phương tiện thông tin đại chúng cho dưới 100 nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và đáp ứng điều kiện về đối tượng mua trái phiếu riêng lẻ (Nhà đầu tư chiến lược đối với trái phiếu chuyển đổi riêng lẻ và trái phiếu kèm theo chứng quyền riêng lẻ; Nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp đối với trái phiếu chuyển đổi riêng lẻ, trái phiếu, kèm theo chứng quyền riêng lẻ và loại trái phiếu riêng lẻ khác). Việc chào bán trái phiếu riêng lẻ phải đáp ứng các điều kiện: công ty đã thanh toán đủ cả gốc và lãi của trái phiếu đã chào bán và đã đến hạn thanh toán hoặc thanh toán đủ các khoản nợ đến hạn trong 03 năm liên tiếp trước đợt chào bán trái phiếu (nếu có), trừ trường hợp chào bán trái phiếu cho các chủ nợ là tổ chức tài chính được lựa chọn; có báo cáo tài chính của năm trước liền kề năm phát hành được kiểm toán; bào đảm điều kiện về tỷ lệ an toàn tài chính, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động theo quy định pháp luật; điều kiện khác theo quy định của pháp luật có liên quan.
- Như vậy, điều luật mới đã có nhiều sửa đổi, bổ sung về điều kiện để công ty cổ phần là công ty đại chúng và công ty cổ phần không phải là công ty đại chúng chào bán trái phiếu riêng lẻ.
3. Công ty cổ phần được cơ cấu tổ chức quản lý như thế nào?
Điều 137 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định về cơ cấu tổ chức quản lý công ty cổ phần như sau: Trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác, công ty cổ phần có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình sau đây:Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp công ty cổ phần có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tắ chức sở hữu dưới 50% tổng sổ cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát; Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp này ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có ủy ban kiểm toán trực thuộc Hội đồng quản trị. Cơ cẩu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của ủy ban kiểm toán quy định tại Điều lệ công ty hoặc quy chê hoạt động của Uy ban kiêm toán do Hội đông quản trị ban hành.
Trường hợp công ty chỉ có một người đại diện theo pháp luật thì Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty. Trường hợp Điều lệ chưa có quy định thì Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật của công ty. Trường hợp công ty có hơn một người đại diện theo pháp luật thì Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc đương nhiên là người đại diện theo pháp luật của công ty.
Theo đó, công ty cổ phần có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình (trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác):
+ Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp công ty cổ phần có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát;
+ Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp này ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có ủy ban kiểm toán trực thuộc Hội đồng quản trị. Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của ủy ban kiểm toán quy định tại Điều lệ công ty hoặc quy chế hoạt động của ủy ban kiểm toán do Hội đồng quản trị ban hành.
+ Trường hợp công ty chỉ có một người đại diện theo pháp luật thì Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp ]uật của công ty. Trường hợp Điều lệ chưa có quy định thì Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật của công ty. Trường hợp công ty có hơn một người đại diện theo pháp luật thì Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc đương nhiên là người đại diện theo pháp luật của công ty.
Như vậy, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã sửa đổi theo hướng thay thế tên gọi “Ban kiểm toán nội bộ” bằng “ủy ban kiểm toán” để phù hợp với tên gọi phổ biến hiện nay và thông lệ quốc tế; tránh nhầm lẫn, thúc đẩy mô hình quản trị mới, hiện đại, phổ biến theo thông lệ. Bởi lẽ, thực tiễn áp dụng quy định mô hình quản trị công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp năm 214 cho thấy: Thuật ngữ “Ban kiểm toán nội bộ” trùng tên gọi với cơ quan tương tự ở nhiều doanh nghiệp, nhưng khác về chức năng, nhiệm vụ vì thuộc Giám đốc hoặc Ban giám đốc; mặc dù Ban kiểm toán nội bộ theo Luật Doanh nghiệp năm 214 là hoàn toàn khác cả về địa vị pháp lý (thuộc Hội đồng quản trị) và chức năng, nhiệm vụ. Trên thực tế, khi sử dụng thuật ngữ “Ban kiểm toán nội bộ” thì luôn được hiểu là “Ban kiểm toán nội bộ” thuộc ban điều hành. Nhiều công ty trên thực tế sử dụng tên khác là “ủy ban kiểm toán” để thay thế cho tên gọi theo Luật Doanh nghiệp năm 214. Việc trùng tên gọi giữa hai cơ quan trong doanh nghiệp như nêu trên cùng phần nào dẫn đến hạn chế áp dụng mô hình quản trị thứ hai; dẫn đến hiểu nhầm hoặc nhầm lẫn trên thực tế nếu doanh nghiệp sử dụng đúng thuật ngữ theo luật doanh nghiệp.
Công ty luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)