1. Những vấn đề liên quan đến Bảo tàng
1.1 Bảo tàng được hiểu như thế nào?
Bảo tàng là một cơ sở văn hóa được tạo ra để thu thập, bảo quản, nghiên cứu và trưng bày các tác phẩm nghệ thuật, hiện vật lịch sử, khoa học, văn hóa và các tư liệu khác có giá trị trong việc ghi lại và truyền bá kiến thức và di sản của con người. Bảo tàng có thể chứa đựng các loại hiện vật và tác phẩm nghệ thuật như bức tranh, tượng, đồ cổ, di vật lịch sử, những tư liệu gốc hoặc sao chép, tài liệu viết và các loại phương tiện truyền thông khác.
Bảo tàng thường được tổ chức và quản lý bởi các tổ chức công cộng, như các cơ quan chính phủ, tổ chức phi lợi nhuận hoặc các tổ chức tư nhân. Mục tiêu của bảo tàng là bảo tồn và bảo vệ di sản văn hóa, khám phá và nghiên cứu lịch sử, văn hóa, khoa học, nghệ thuật và phục vụ cộng đồng bằng cách trưng bày và giáo dục công chúng.
Bảo tàng có thể được chia thành nhiều loại, bao gồm bảo tàng nghệ thuật, bảo tàng lịch sử, bảo tàng khoa học, bảo tàng thiên nhiên và nhiều loại khác nhau tùy thuộc vào chủ đề và mục đích của từng bảo tàng cụ thể.
1.2 Ý nghĩa và vai trò của Bảo tàng
Bảo tàng có ý nghĩa và vai trò vô cùng quan trọng và đa dạng trong xã hội. Dưới đây là một số ý nghĩa chính của bảo tàng:
Bảo tồn di sản văn hóa: Bảo tàng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và bảo vệ di sản văn hóa của một quốc gia hoặc một cộng đồng. Các hiện vật và tác phẩm nghệ thuật quý giá được thu thập và bảo quản để giữ gìn và truyền lại cho các thế hệ sau.
Nghiên cứu và giáo dục: Bảo tàng cung cấp môi trường để nghiên cứu, khám phá và tìm hiểu về lịch sử, nghệ thuật, khoa học và văn hóa của con người. Các nhà nghiên cứu, học sinh, sinh viên và công chúng có thể tiếp cận các nguồn tư liệu và tham gia vào các hoạt động giáo dục và học tập.
Truyền bá kiến thức và tạo động lực sáng tạo: Bảo tàng giúp truyền bá kiến thức và tạo động lực sáng tạo cho công chúng. Qua việc trưng bày các hiện vật và tác phẩm nghệ thuật, bảo tàng khuyến khích sự tò mò, tư duy phản biện và trí tưởng tượng của người xem.
Tạo ra trải nghiệm văn hóa và giải trí: Bảo tàng là nơi mà mọi người có thể thưởng thức và tận hưởng trải nghiệm văn hóa và nghệ thuật. Việc truy cập vào các bộ sưu tập và triển lãm đa dạng của bảo tàng mang lại niềm vui và trải nghiệm giải trí cho khách tham quan.
Gắn kết cộng đồng: Bảo tàng thường đóng vai trò quan trọng trong việc gắn kết cộng đồng. Các hoạt động của bảo tàng có thể thu hút và tạo điểm gặp gỡ cho các thành viên trong cộng đồng, góp phần vào việc xây dựng mối quan hệ xã hội và tạo sự tương tác và giao lưu giữa các thành viên trong cộng đồng.
Tóm lại, bảo tàng không chỉ là nơi bảo tồn và trưng bày di sản văn hóa mà còn mang ý nghĩa văn hóa, giáo dục, giải trí và gắn kết cộng đồng. Nó là một phần quan trọng của xã hội và đóng góp vào việc duy trì và phát triển các giá trị và nhận thức về di sản của con người.
2. Quy định của pháp luật về điều kiện đối với kinh doanh dịch vụ bảo tàng
Hoạt động bảo tồn và bảo tàng là một ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo quy định của Luật Đầu tư 2020. Để thành lập một công ty hoạt động bảo tồn, bảo tàng, doanh nghiệp không chỉ cần chuẩn bị hồ sơ hợp lệ để đăng ký kinh doanh theo quy định chung mà còn phải đáp ứng các điều kiện chuyên ngành sau đây:
Điều kiện để thành lập bảo tàng:
- Có sưu tập theo một hoặc nhiều chủ đề: Doanh nghiệp phải có bộ sưu tập hiện vật và tác phẩm nghệ thuật liên quan đến một hoặc nhiều chủ đề nhất định. Các chủ đề này có thể bao gồm lịch sử, nghệ thuật, văn hóa, khoa học, thiên nhiên và các lĩnh vực khác.
- Có nơi trưng bày, kho và phương tiện bảo quản: Doanh nghiệp cần có nơi trưng bày công khai để hiện thị sưu tập của mình cho công chúng. Đồng thời, cần có kho để bảo quản và bảo vệ các hiện vật và tác phẩm nghệ thuật. Công ty cũng cần có các phương tiện và thiết bị cần thiết để duy trì và bảo quản tốt sưu tập.
- Có người am hiểu chuyên môn phù hợp với hoạt động bảo tàng: Doanh nghiệp cần có người đứng đầu hoặc cán bộ có hiểu biết và kỹ năng chuyên môn về quản lý và bảo quản bảo tàng. Họ cần có kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực bảo tồn, nghiên cứu, và truyền thông về di sản văn hóa và nghệ thuật.
Xếp hạng bảo tàng Việt Nam:
Bảo tàng Việt Nam được xếp hạng thành ba hạng sau đây:
- Bảo tàng hạng I: Đây là các bảo tàng có quy mô lớn, có nguồn lực và hiện vật đa dạng, quan trọng về lịch sử, nghệ thuật và văn hóa. Chúng thường có vai trò quốc gia và quốc tế trong việc bảo tồn và trưng bày di sản.
- Bảo tàng hạng II: Đây là các bảo tàng có quy mô trung bình và có hiện vật đáng chú ý về một hoặc nhiều chủ đề. Chúng thường đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và giới thiệu văn hóa địa phương và lịch sử.
- Bảo tàng hạng III: Đây là các bảo tàng có quy mô nhỏ và hiện vật chủ yếu tập trung vào văn hóa địa phương và di sản cộng đồng. Chúng có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn và phát triển nhận thức văn hóa trong cộng đồng.
(Tham khảo theo Điều 29 Nghị định 98/2010/NĐ-CP)
Bên cạnh đó pháp luật cũng quy định rất rõ về tiêu chuẩn xếp hạng bảo tàng cụ thể:
Thứ nhất, đối với Bảo tàng hạng I phải đạt được các tiêu chuẩn sau đây:
- Có đủ tài liệu, hiện vật trưng bày phù hợp với đối tượng và phạm vi hoạt động của bảo tàng, trong đó có ít nhất 5 sưu tập tài liệu, hiện vật quý hiếm; từ đủ 90% tổng số tài liệu, hiện vật trở lên đã được kiểm kê khoa học;
- 100% tổng số tài liệu, hiện vật được bảo quản định kỳ, bảo quản phòng ngừa và có thực hành bảo quản trị liệu;
- Có trưng bày thường trực và hằng năm có ít nhất 3 trưng bày chuyên đề; thường xuyên mở cửa trưng bày phục vụ công chúng;
- Có công trình kiến trúc bền vững và hạ tầng kỹ thuật phù hợp, bảo đảm cho việc bảo quản, trưng bày tài liệu, hiện vật quy định tại điểm a điểm b, điểm c khoản 1 Điều này và các hoạt động thường xuyên khác của bảo tàng;
- 100% số công chức, viên chức, nhân viên trực tiếp làm chuyên môn có trình độ đại học phù hợp với đối tượng và phạm vi hoạt động của bảo tàng.
Thứ hai, đối với Bảo tàng hạng II phải đạt được các tiêu chuẩn sau đây:
- Có đủ tài liệu, hiện vật trưng bày phù hợp với đối tượng và phạm vi hoạt động của bảo tàng, trong đó có ít nhất 3 sưu tập tài liệu, hiện vật quý hiếm; từ đủ 80% tổng số tài liệu, hiện vật trở lên đã được kiểm kê khoa học;
- 100% tổng số tài liệu, hiện vật được bảo quản định kỳ và bảo quản phòng ngừa;
- Có trưng bày thường trực và hằng năm có ít nhất 2 trưng bày chuyên đề; thường xuyên mở cửa trưng bày phục vụ công chúng;
- Có công trình kiến trúc bền vững và hạ tầng kỹ thuật phù hợp, bảo đảm cho việc bảo quản, trưng bày tài liệu, hiện vật quy định tại điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều này và các hoạt động thường xuyên khác của bảo tàng;
- Từ đủ 80% số công chức, viên chức, nhân viên trực tiếp làm chuyên môn trở lên có trình độ đại học phù hợp với đối tượng và phạm vi hoạt động của bảo tàng.
Thứ ba, đối với Bảo tàng hạng III phải đạt được các tiêu chuẩn sau đây:
- Có đủ tài liệu, hiện vật trưng bày phù hợp với đối tượng và phạm vi hoạt động của bảo tàng, trong đó có ít nhất 1 sưu tập tài liệu, hiện vật quý hiếm; từ đủ 70% tổng số tài liệu, hiện vật trở lên đã được kiểm kê khoa học;
- 100% tổng số tài liệu, hiện vật được bảo quản định kỳ;
- Có trưng bày thường trực và hằng năm có ít nhất 1 trưng bày chuyên đề; thường xuyên mở cửa trưng bày phục vụ công chúng;
- Có công trình kiến trúc bền vững và hạ tầng kỹ thuật phù hợp, bảo đảm cho việc bảo quản, trưng bày tài liệu, hiện vật quy định tại điểm a, điểm b, điểm c khoản 3 Điều này và các hoạt động thường xuyên khác của bảo tàng;
- Từ đủ 60% số công chức, viên chức, nhân viên trực tiếp làm chuyên môn trở lên có trình độ đại học phù hợp với đối tượng và phạm vi hoạt động của bảo tàng.
(Điều 30 Nghị định 98/2010/NĐ-CP).
3. Thầm quyền quyết định thành lập bảo tàng bao gồm những ai?
Theo quy định tại Khoản 25 Điều 1 Luật di sản văn hóa sửa đổi 2009, quyền quyết định thành lập bảo tàng được quy định như sau:
- Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền quyết định thành lập bảo tàng quốc gia và bảo tàng chuyên ngành thuộc các bộ, ngành, tổ chức chính trị và tổ chức chính trị-xã hội ở trung ương. Quyết định này được dựa trên đề nghị của Bộ trưởng, người đứng đầu ngành hoặc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội tương ứng ở trung ương.
- Bộ trưởng, người đứng đầu ngành hoặc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội ở trung ương có thẩm quyền quyết định thành lập bảo tàng chuyên ngành thuộc đơn vị trực thuộc. Quyết định này dựa trên đề nghị của người đứng đầu đơn vị trực thuộc.
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định thành lập bảo tàng cấp tỉnh. Quyết định này dựa trên đề nghị của cơ quan có thẩm quyền về văn hóa, thể thao và du lịch ở địa phương. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động cho bảo tàng không thuộc sở hữu công lập, theo đề nghị của tổ chức hoặc cá nhân thành lập bảo tàng.
Đây là quy trình quyết định thành lập bảo tàng theo các cấp quản lý và có sự tham gia của các cơ quan có thẩm quyền tại cấp trung ương và địa phương.
Các bạn có thể tham khảo thêm các bài viết tại đây của Luật Minh Khuê: Thủ tục xếp hạng bảo tàng như thế nào? Cách thức gửi di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia vào bảo tàng
Nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có câu hỏi cần được giải đáp, hãy liên hệ với Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Hoặc quý khách hàng gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng. Xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý khách hàng!