Căn cứ pháp lý:

- Luật về Điều khoản giao dịch chung Đức năm 1976 được sửa đổi năm 1996

- Bộ luật Dân sự Đức năm 2002.

1. Điều kiện giao dịch chung là gì?

Điều kiện giao dịch chung (ĐKGDC) có nguồn gốc hình thành từ khoảng thế kỷ XIX cùng với quá trình sản xuất và phân phối hàng loạt ở các nước phương Tây dẫn tới việc các nhà sản xuất và cung ứng dịch vụ mang tính hàng loạt sử dụng các form, mẫu trong giao dịch với khách hàng. Sự ra đời của ĐKGDC hoàn toàn khách quan, phù hợp với sự phát triển của nền sản xuất hàng loạt ngày càng tiêu chuẩn hóa. Ở Việt Nam, về vấn đề này, khoa học pháp lý tìm cách giải quyết chúng trong khuôn khổ của “hợp đồng mẫu” hay “mẫu hợp đồng”. Ngày nay, một số nhà khoa học đề cập trong khái niệm “hợp đồng gia nhập”. Các doanh nghiệp có xu thế sử dụng các ĐKGDC để áp dụng cho tất cả các giao dịch với các đối tác của mình, điều này giúp cho doanh nghiệp giảm chi phí đàm phán, giảm rủi ro pháp lý, từ đó giảm chi phí cho xã hội.

Tuy nhiên, khi ĐKGDC chỉ do một bên soạn thảo dễ dẫn đến nguy cơ bên soạn thảo ĐKGDC bao giờ cũng tìm cách hạn chế tính tùy nghi của các quy tắc, chèn ép khách hàng, dồn họ vào tình thế khó lựa chọn, hạn chế hay vi phạm nguyên tắc tự do khế ước; dùng các thủ thuật pháp lý để phân chia rủi ro pháp lý và lợi ích một cách không công bằng, gây bất lợi cho khách hàng hay người tiêu dùng. Khi khách hàng ký hợp đồng, ĐKGDC có giá trị ràng buộc họ, không phụ thuộc vào việc họ đã đọc nó hay chưa. Nguyên tắc tự do hợp đồng bị hạn chế và chỉ có thể giải thích là nếu khách hàng thấy bất lợi thì không giao kết hợp đồng nữa5. Chính vì vậy, để bảo vệ khách hàng trước các ĐKGDC do một bên soạn thảo trước, pháp luật của nhiều nước trên thế giới đã quy định cơ chế kiểm soát các ĐKGDC nhằm bảo vệ lợi ích cho khách hàng trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng.

Nghiên cứu ĐKGDC của một số nước trên thế giới cho thấy ĐKGDC là vấn đề pháp lý liên quan tới pháp luật hợp đồng và pháp luật bảo vệ người tiêu dùng (NTD), nhiều quốc gia quan niệm đó là một bộ phận của pháp luật bảo vệ NTD. Trong phạm vi bài viết này, tác giả lựa chọn pháp luật về ĐKGDC của Cộng hòa Liên bang Đức (CHLB Đức), Anh để so sánh với pháp luật về ĐKGDC của Việt Nam bởi đây là những quốc gia sử dụng ĐKGDC từ rất sớm, tác giả sẽ giải thích cụ thể ở các mục tiếp theo của bài viết.

2. Điều kiện giao dịch chung theo Cộng hòa Liên bang Đức

CHLB Đức là một trong các quốc gia đầu tiên ban hành Luật về Điều khoản giao dịch chung năm 1976, luật này tiếp tục được sửa đổi năm 1996. Năm 2002, trong quá trình sửa đổi Luật Dân sự, các quy định trong AGBG sau này được đưa thành một phần trong Bộ luật Dân sự Đức (Brgerliches Gesetzbuch - BGB), nhập chung vào BLDS Đức phần nghĩa vụ hợp đồng và chú thích rõ quy định này nhằm để thực thi Chỉ thị số 93/13/EEC ngày 05/4/1993 của Hội đồng Châu Âu về các ĐKGDC không công bằng trong các hợp đồng với người tiêu dùng.

Về định nghĩa, theo BGB, Điều kiện giao dịch chung là những điều khoản hợp đồng được soạn thảo từ trước để sử dụng cho nhiều hợp đồng mà một bên (bên soạn thảo) đưa ra cho bên còn lại khi ký kết hợp đồng (Điều 305 BGB). Theo định nghĩa này thì ĐKGDC là những điều khoản thỏa mãn các dấu hiệu sau:

(i) Được soạn thảo từ trước để sử dụng cho nhiều hợp đồng sẽ phát sinh. Trong thực tiễn xét xử tại tòa án Đức, tiêu chí này được đáp ứng nếu một điều khoản được soạn thảo để sử dụng ít nhất 3 lần, dù là trong các giao dịch của các bên giống nhau.

(ii) ĐKGDC bị kiểm soát bởi chỉ một bên trong hợp đồng (một bên đưa ra ĐKGDC trong hợp đồng và bên còn lại không có cơ hội để sửa đổi các điều khoản này, bên còn lại phải chấp nhận các điều khoản này nếu muốn thực hiện giao dịch).

(iii) ĐKGDC có thể xuất hiện ngay trong hợp đồng hoặc là một phần riêng biệt đính kèm hoặc được dẫn chiếu trong hợp đồng, hoặc thậm chí là một thông báo công khai gửi tới một bên trong hợp đồng.

Về phạm vi áp dụng của các quy định về ĐKGDC: (i) Áp dụng cho cả hợp đồng giữa doanh nghiệp và NTD và hợp đồng giữa các doanh nghiệp với nhau10. (ii) Không áp dụng cho các giao dịch thuộc lĩnh vực pháp luật về thừa kế, pháp luật gia đình và pháp luật công ty.

3. cơ chế kiểm soát các điều kiện giao dịch chung ở CHLB Đức

Theo pháp luật của CHLB Đức, không phải bất cứ ĐKGDC nào được một bên đưa ra cũng là một phần của hợp đồng mà nó phải đáp ứng các điều kiện: i) bên đặt ra ĐKGDC phải chỉ dẫn cho bên kia về các ĐKGDC một cách rõ ràng; ii) tạo điều kiện để cho họ có thể nhận biết nội dung của ĐKGDC một cách chấp nhận được, kể cả trường hợp người đó bị khuyết tật thì bên đặt ra các ĐKGDC phải có những lưu ý nổi bật, những cách mà khách hàng có thể nhận thức được, hiểu được nội dung của các ĐKGDC đó.

Ngoài các điều kiện cụ thể, để tránh trường hợp phát sinh không nằm trong danh mục các điều khoản đã liệt kê trên, BGB còn quy định điều kiện chung đó là ĐKGDC sẽ không có hiệu lực nếu trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực trong giao kết hợp đồng, gây bất lợi một cách không hợp lý cho bên giao kết hợp đồng. Các bất lợi không hợp lý ấy có thể là kết quả của những quy định không rõ ràng, khó hiểu. Khoản 2 Điều 307 BGB cũng giải thích thêm về cơ sở để xác định một ĐKGDC bất lợi không hợp lý cho bên giao kết hợp đồng nếu những điều kiện đó không phù hợp với nguyên tắc cơ bản của pháp luật hoặc hạn chế các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ bản chất của hợp đồng tới mức không đạt được mục đích của hợp đồng. Vi phạm quy tắc này, tòa án sẽ có thẩm quyền tuyên ĐKGDC đó vô hiệu. Bên cạnh đó, những điều khoản “gây ngạc nhiên”, khác thường tới mức chủ thể còn lại của hợp đồng không nghĩ sẽ gặp phải trong hợp đồng thì điều khoản đó cũng không thể trở thành bộ phận của hợp đồng (Điều 305c).

Ngoài việc quy định các nguyên tắc chung, BGB còn đưa ra một danh sách các ĐKGDC bị cấm (Điều 308, 309), trong đó, điều 308 BGB liệt kê cụ thể danh mục các điều khoản có dấu hiệu bất công bằng sẽ bị vô hiệu, nếu có hành vi vi phạm danh mục các điều khoản đó thì tòa án và các cơ quan có thẩm quyền có quyền tuyên những điều khoản ấy không có hiệu lực; điều 309 BGB liệt kê các trường hợp ĐKGDC đương nhiên bị vô hiệu nếu thuộc một trong các trường hợp đã quy định.

Những quy định của BGB về ĐKGDC cho thấy một cơ chế kiểm soát các ĐKGDC rất chặt chẽ, các nhà lập pháp Đức rất quan tâm đến việc bảo vệ quyền lợi của bên yếu thế bằng việc quy định các điều khoản mang tính bắt buộc chung trong BLDS. Đồng thời, dự liệu trước những khả năng trong thực tế có thể xảy ra khi liệt kê chi tiết đến từng điều khoản về điều kiện có hiệu lực của các ĐKGDC, cũng như sự vô hiệu của các điều kiện đó. Thông qua đó, bên yếu thế có thể tự bảo vệ quyền lợi của mình khi phát hiện những ĐKGDC trái với nguyên tắc chung, hạn chế được sự hình thành và áp dụng các ĐKGDC trái pháp luật của bên bán hàng hóa hay nhà cung ứng dịch vụ.

4. Trường hợp bất khả kháng trong pháp luật hợp đồng của Cộng hòa Liên bang Đức

Chỉ tính riêng đại dịch COVID-19, nước Đức đã bị tác động và ảnh hưởng rất nhiều. Trước tiên, Bộ luật dân sự Đức không có định nghĩa cụ thể về “sự kiện bất khả kháng”. Đối chiếu với Đạo luật trách nhiệm pháp lý của Đức (Haftpflichtgesetz) sự kiện bất khả kháng là: “Một sự kiện nằm ngoài quy trình kinh doanh thông thường gây ra một cách khách quan bởi tự nhiên hoặc do hành động của các bên thứ ba, không thể lường trước được theo tiêu chuẩn về sự hiểu biết và kinh nghiệm của con người, không thể bị ngăn chặn hoặc làm cho vô hại bằng các phương tiện kinh tế được, ngay cả khi hết sức thận trọng dự trù một cách hợp lý, và điều đó không xảy ra với tần suất đến mức một bên có thể coi đó là một phần của hoạt động kinh doanh thông thường của mình”.[5] Do đó, khái niệm bất khả kháng được đặc trưng bởi ba yếu tố: không thể lường trước, không thể tránh khỏi và xuất phát từ các trường hợp ngoại lệ.[6] Do những rủi ro bất khả kháng này, các bên thường đồng ý bổ sung Điều khoản bất khả kháng trong hợp đồng của mình. Họ có thể tự do đi lệch khỏi “định nghĩa” pháp lý tiêu chuẩn về trường hợp bất khả kháng.

Khi xác định liệu đại dịch có cấu thành một trường hợp bất khả kháng hay không, một tiêu chí quan trọng là việc hạn chế hoặc không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng là kết quả trực tiếp từ sự bùng phát của đại dịch hoặc do các biện pháp của cơ quan có thẩm quyền để giải quyết dịch bệnh. Các quyết định hoặc thông báo của chính phủ tuyên bố một sự kiện bất khả kháng cũng được các tòa án Đức cũng tính đến. Trong quá khứ, một số đại dịch khi xét xử đã được tòa án công nhận là sự kiện bất khả kháng. Điển hình là bản án 14 C 4608/03 ngày 9 tháng 11 năm 2004 của Tòa án địa phương Augsburg công nhận dịch SARS là sự kịên bát khả kháng hoặc bản án số 2 C 1451 / 92-18 của tòa án Homburg ngày 2 tháng 9 năm 1992 công nhận dịch tả với cái tên “Cái chết xanh”[8] là sự kiện bất khả kháng. Đối với dịch COVID-19 đang tác động nặng nề, một số Tòa án đã giải quyết coi đây là sự kiện bất khả kháng và áp dụng hậu quả pháp lý theo đó.

Trong những điều kiện nhất định, luật pháp Đức cho phép một bên ký kết chấm dứt toàn bộ hợp đồng vì lý do bất khả kháng. Tuy nhiên, nếu những trở ngại đối với việc thực hiện chỉ mang tính chất tạm thời, luật pháp Đức yêu cầu bên không bị sự kiện bất khả kháng ảnh hưởng đặt ra cho bên bị ảnh hưởng một thời hạn hợp lý hơn để thực hiện. Ngoài ra, trong hợp đồng của mình, các bên có thể thỏa thuận quyền của một bên được tạm hoãn nghĩa vụ của mình nếu bị ảnh hưởng bởi nguyên nhân bất khả kháng. Họ chỉ có thể rút khỏi hợp đồng nếu bên bị ảnh hưởng vẫn chưa hoàn thành việc thực hiện trước thời hạn này. (Điều 323)

Một học thuyết khác cũng được quan tâm khi nghiên cứu về pháp luật hợp đồng của Cộng hòa liên bang Đức là học thuyết hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Trong đó, việc chấm dứt hoặc sửa đổi hợp đồng sẽ bao gồm các tình huống mà nền tảng của thỏa thuận biến mất không do lỗi của bên nào. Trong quá trình cải cách luật hợp đồng chung trong Bộ luật Dân sự Đức năm 2002, Điều 313 mới đã được đưa vào với tiêu đề “xáo trộn nền tảng của giao dịch” (“Störung der Geschäftsgrundlage ”):

“1. Nếu các tình huống, trở thành cơ sở của hợp đồng, đã thay đổi đáng kể kể từ khi hợp đồng được giao kết và các bên sẽ không giao kết hợp đồng hoặc đã giao kết với các nội dung hoàn toàn khác nếu họ thấy trước sự thay đổi này, thì hợp đồng có thể được yêu cầu điều chỉnh, có tính đến tất cả các tình huống của trường hợp cụ thể, cụ thể là phân bổ rủi ro theo hợp đồng hoặc luật định, một trong các bên không thể dự kiến sẽ duy trì thực hiện hợp đồng mà không thay đổi.

3. Nếu không thể điều chỉnh hợp đồng hoặc một bên không thể chấp nhận hợp đồng một cách hợp lý, bên bị thiệt thòi có thể rút khỏi hợp đồng. Trong trường hợp hợp đồng có các nghĩa vụ tiếp tục sau đó, quyền chấm dứt thay thế cho quyền rút lại.”

Nếu các điều kiện tiên quyết của Tiểu mục 1 hoặc 2 được đáp ứng và có một phương án điều chỉnh hợp lý, bên bị vi phạm có thể yêu cầu bên kia điều chỉnh. Bên bị vi phạm chỉ được quyền rút khỏi hoặc chấm dứt hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi nếu việc điều chỉnh hợp đồng trở nên bất hợp pháp, không thể thực hiện được hoặc không hợp lý đối với bên kia.

Mặc dù cách áp dụng pháp luật của nước Đức coi đại dịch là sự kiện bất khả kháng thông qua các bản án đã nhắc đến phía trên nhưng để đối phó kịp thời với đại dịch COVID-19 đang hoành hành, ngày 25 tháng 3 năm 2020, Quốc hội Đức (Bundestag) đã thông qua Luật giảm nhẹ hậu quả của đại dịch COVID 19 trong dân sự, phá sản và hình sự trong đó có quy định về hợp đồng thuê như sau:

“Mục 2. Hạn chế việc chấm dứt hợp đồng thuê và cho thuê: Chủ nhà không được phép chấm dứt hợp đồng thuê đất hoặc mặt bằng chỉ với lý do người thuê không trả tiền thuê trong khoảng thời gian từ ngày 1 tháng 4 năm 2020 đến ngày 30 tháng 6 năm 2020 mặc dù đã đến hạn, nếu việc không trả là có căn cứ ảnh hưởng của đại dịch COVID 19. Mối liên hệ giữa đại dịch COVID 19 và việc không thanh toán phải được chứng minh. Các quyền chấm dứt khác vẫn không bị ảnh hưởng.”

Chỉ khi việc không trả tiền thuê nhà dựa trên đại dịch COVID 19 thì quyền chấm dứt hợp đồng của chủ nhà mới bị loại trừ. Tuy nhiên, quyền chấm dứt hợp đồng của chủ nhà vẫn có hiệu lực nếu việc không trả tiền thuê nhà là do các lý do khác, chẳng hạn như không muốn trả tiền hoặc trên cơ sở các khoản nợ thuê đã tích lũy trong thời gian trước đó hoặc sẽ phát sinh từ thời kỳ sau. Các hạn chế về quyền chấm dứt hợp đồng áp dụng cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2022 (Điều 240, mục 2 đoạn 4). Sau thời hạn này, quyền chấm dứt hợp đồng của chủ nhà sẽ được khôi phục.

Như vậy, Chính phủ Đức đã áp dụng các biện pháp ngăn cản quyền chấm dứt hợp đồng do sự kiện bất khả kháng đối với một loại hợp đồng cụ thể là hợp đồng thuê bất động sản trong một khoảng thời gian dịch COVID-19 tác động mạnh nhất đến nước Đức. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng đại dịch COVID-19 chỉ có thể được coi là một sự kiện bất khả kháng không thể lường trước được đối với các hợp đồng đã được ký kết trước khi nó được biết đến - khoảng cho đến đầu tháng 3 năm 2020. Chắc chắn rằng không ai đã tham gia vào quan hệ hợp đồng từ đầu tháng 3 năm 2020 có thể viện lý do bất khả kháng. Kể từ thời điểm đó, đại dịch đã có thể lường trước trước ở Đức.

5. Pháp luật Vieẹt Nam về điều kiện giao dịch chung

Trước khi BLDS năm 2015 được ban hành thì ĐKGDC dường như chưa trở thành mối quan tâm của giới pháp lý Việt Nam. Do đó, trong một thời gian dài, pháp luật hợp đồng của Việt Nam chưa đưa các ĐKGDC vào nội dung điều chỉnh của mình. Hiện nay, ĐKGDC được quy định ở chế định hợp đồng trong BLDS năm 2015, đó là những điều khoản ổn định do một bên công bố để áp dụng chung cho bên được đề nghị giao kết hợp đồng, nếu bên được đề nghị chấp nhận giao kết hợp đồng thì coi như chấp nhận các điều khoản này (Khoản 1 Điều 406). Ngoài BLDS năm 2015, trong mối quan hệ hợp đồng với NTD, ĐKGDC còn được điều chỉnh trực tiếp bởi Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 (Luật BVQLNTD), theo đó ĐKGDC là những quy định, quy tắc bán hàng, cung ứng dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ công bố và áp dụng đối với NTD (Khoản 6 Điều 3).

Về phạm vi áp dụng, Luật BVQLNTD chỉ áp dụng cho hợp đồng với người tiêu dùng, còn BLDS có phạm vi áp dụng rộng hơn, bao gồm các hợp đồng được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện, tự do ý chí như hợp đồng thương mại, hợp đồng dân sự, hợp đồng lao động...

Từ quy định của pháp luật CHLB Đức, Anh và Việt Nam về khái niệm của ĐKGDC có thể thấy CHLB Đức và Việt Nam đều có điểm chung ĐKGDC là những điều khoản do một bên soạn thảo trước, phía bên kia không được thỏa thuận gì nếu muốn giao kết hợp đồng, sẽ không thể coi là ĐKGDC nếu nó được đàm phán một cách chi tiết. Về phạm vi điều chỉnh, pháp luật các nước đều coi ĐKGDC là một vấn đề pháp lý của pháp luật hợp đồng và pháp luật bảo vệ NTD.

Bài viết tham khảo:

1. Pháp luật về điều kiện giao dịch chung của Cộng hòa Liên bang Đức, Anh và Việt Nam; Nguyễn Thị Huyền (Khoa Luật, Đại học Ngoại Thương) - Tạp chí Công Thương;

2. Pháp luật Hợp đồng của Trung Quốc và Đức trước tác động của đại dịch và kinh nghiệm cho Việt Nam; Nhóm tác giả (sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội) - Chu Minh Anh, Phạm Ngọc Ánh, Nguyễn Tống Bảo Minh) – Tạp chí pháp lý điện tử.