Mục lục bài viết
1. Điều kiện học lên trình độ tiến sĩ là gì?
Trong Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ ban hành kèm theo Thông tư 18/2021/TT-BGDĐT, các quy định cụ thể về tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ được xác định một cách chi tiết và cụ thể. Quy chế này áp dụng cho các cơ sở giáo dục đại học và viện được thành lập theo quy định của Luật Khoa học và công nghệ, có thẩm quyền đào tạo trình độ tiến sĩ. Riêng đối với việc tuyển sinh và tổ chức đào tạo các chương trình tiến sĩ do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp bằng, các quy định trong Quy chế này không áp dụng.
Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ đặt ra các điều kiện chung đối với người dự tuyển tiến sĩ. Cụ thể, những điều kiện này bao gồm:
- Đã tốt nghiệp thạc sĩ hoặc tốt nghiệp đại học hạng giỏi trở lên trong ngành phù hợp, hoặc tốt nghiệp trình độ tương đương bậc 7 theo Khung trình độ quốc gia Việt Nam, đặc thù phù hợp với ngành đào tạo tiến sĩ.
- Đáp ứng yêu cầu đầu vào theo chuẩn chương trình đào tạo do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành và của chương trình đào tạo tiến sĩ đăng ký dự tuyển.
- Có kinh nghiệm nghiên cứu thể hiện qua luận văn thạc sĩ của chương trình đào tạo định hướng nghiên cứu, bài báo, báo cáo khoa học đã công bố hoặc có thời gian công tác từ 02 năm (24 tháng) trở lên là giảng viên, nghiên cứu viên của các cơ sở đào tạo, tổ chức khoa học và công nghệ.
- Có dự thảo đề cương nghiên cứu và kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa.
Ngoài những điều kiện trên, người dự tuyển cần đáp ứng các điều kiện về năng lực ngoại ngữ. Điều này bao gồm việc đạt yêu cầu về năng lực ngoại ngữ bằng một trong các văn bằng, chứng chỉ được công nhận, bao gồm:
- Bằng tốt nghiệp trình độ đại học trở lên do cơ sở đào tạo nước ngoài, phân hiệu của cơ sở đào tạo nước ngoài ở Việt Nam hoặc cơ sở đào tạo của Việt Nam cấp bằng tiếng nước ngoài.
- Bằng tốt nghiệp trình độ đại học ngành ngôn ngữ tiếng nước ngoài do các cơ sở đào tạo của Việt Nam cấp. Điều này đòi hỏi sự công nhận và tuân thủ theo các quy định và tiêu chuẩn nghiêm ngặt của hệ thống giáo dục Việt Nam, đảm bảo chất lượng và độ tin cậy của bằng cấp. Chỉ khi nắm vững điều kiện này, nghiên cứu sinh mới có thể theo đuổi trình độ tiến sĩ và tham gia vào quá trình đào tạo và nghiên cứu tiến sĩ.
- Các chứng chỉ ngoại ngữ quy định tại Phụ lục II của Quy chế, hoặc các chứng chỉ ngoại ngữ khác tương đương trình độ bậc 4 theo khung năng ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam, do Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố.
Đối với người nước ngoài đăng ký học chương trình tiến sĩ bằng tiếng Việt, họ cần có chứng chỉ tiếng Việt từ bậc 4 trở lên theo Khung năng lực tiếng Việt dành cho người nước ngoài và đáp ứng yêu cầu về ngoại ngữ thứ hai do cơ sở đào tạo quyết định. Tuy nhiên, nếu họ là người bản ngữ của ngôn ngữ được sử dụng trong chương trình đào tạo tiến sĩ, họ có thể được miễn khỏi yêu cầu ngoại ngữ thứ hai.
Ngoài các điều kiện chung này, cơ sở đào tạo có thể đưa ra thêm các điều kiện cụ thể dựa trên đặc điểm của từng lĩnh vực, ngành đào tạo và chương trình đào tạo cụ thể mà người dự tuyển phải tuân theo. Điều này giúp đảm bảo rằng người tiến sĩ sẽ có kiến thức và kỹ năng cần thiết cho lĩnh vực và chương trình học tập của họ.
2. Hình thức, thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ
Theo Điều 3 của Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ được ban hành kèm theo Thông tư 18/2021/TT-BGDĐT, quy định về thời gian và hình thức đào tạo trình độ tiến sĩ được xác định như sau:
- Thời gian đào tạo tiêu chuẩn của trình độ tiến sĩ từ 03 năm (36 tháng) đến 04 năm (48 tháng) do cơ sở đào tạo quyết định, bảo đảm phần lớn nghiên cứu sinh hoàn thành chương trình đào tạo trong thời gian này; mỗi nghiên cứu sinh có một kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa nằm trong khung thời gian đào tạo tiêu chuẩn phê duyệt kèm theo quyết định công nhận nghiên cứu sinh (theo mẫu tại Phụ lục I).
- Quá trình đào tạo trình độ tiến sĩ đặt một sự nhấn mạnh đáng kể vào hình thức chính quy, bao gồm những yêu cầu cụ thể để đảm bảo chất lượng và hiệu suất trong quá trình nghiên cứu và học tập. Nghiên cứu sinh cần phải tuân theo kế hoạch học tập và nghiên cứu đã được phê duyệt, và điều quan trọng nhất, khi họ đăng ký và hoàn thành đủ 30 tín chỉ trong một năm học, điều này được coi là tập trung toàn thời gian.
Điều này có nghĩa rằng nghiên cứu sinh phải dành sự tập trung cao độ cho quá trình học tập và nghiên cứu, đảm bảo họ sẽ tiến triển trong chương trình đào tạo một cách hiệu quả. Được xác định là tập trung toàn thời gian cũng thể hiện cam kết mạnh mẽ của nghiên cứu sinh đối với việc hoàn thành chương trình tiến sĩ một cách đúng hẹn và theo đúng tiêu chuẩn quy định. Điều này cùng với hình thức chính quy giúp đảm bảo rằng quá trình đào tạo tiến sĩ sẽ đạt được chất lượng cao và sẽ đáp ứng được các tiêu chuẩn và yêu cầu của ngành khoa học và giảng dạy.
Từ đó, có thể thấy rằng thời gian đào tạo tiêu chuẩn cho trình độ tiến sĩ được quy định trong khoảng từ 03 năm (36 tháng) đến 04 năm (48 tháng) và đào tạo này sẽ diễn ra theo hình thức chính quy. Nghiên cứu sinh cần tuân thủ kế hoạch học tập và nghiên cứu đã được phê duyệt, và khi họ đăng ký đủ 30 tín chỉ trong một năm học, thì đây được xem là tập trung toàn thời gian trong quá trình đào tạo tiến sĩ.
3. Giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ phải đáp ứng những yêu cầu gì?
Theo Điều 4 của Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ ban hành kèm theo Thông tư 18/2021/TT-BGDĐT, các quy định về tiêu chuẩn của giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ được quy định như sau:
- Giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ cần đáp ứng các yêu cầu sau:
+ Là công dân Việt Nam hoặc công dân nước ngoài đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều 54 Luật Giáo dục đại học (được sửa đổi, bổ sung năm 2018) và các quy định pháp luật khác liên quan.
+ Có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc bằng tiến sĩ khoa học, tiến sĩ trong lĩnh vực chuyên môn phù hợp với các học phần, môn học (gọi chung là học phần) đảm nhiệm trong chương trình đào tạo.
+ Có năng lực ngoại ngữ và sử dụng công nghệ thông tin để phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu, và triển khai các hoạt động trao đổi, hợp tác quốc tế liên quan đến lĩnh vực chuyên môn trong chương trình đào tạo tiến sĩ.
- Người chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư cần đáp ứng thêm các yêu cầu sau:
+ Có ít nhất một năm (12 tháng) kinh nghiệm giảng dạy ở trình độ đại học hoặc thạc sĩ, tính từ thời điểm có bằng tiến sĩ.
+ Trong vòng 5 năm (60 tháng) tính từ thời điểm được phân công giảng dạy, phải có công bố liên quan đến chuyên môn giảng dạy với vai trò là tác giả đứng tên đầu hoặc tác giả liên hệ của ít nhất 2 bài báo, báo cáo khoa học trong các ấn phẩm được tính tới 0,75 điểm trở lên theo điểm tối đa do Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định. Hoặc là tác giả hoặc đồng tác giả của ít nhất 1 cuốn sách chuyên khảo được phát hành bởi các nhà xuất bản trong nước hoặc quốc tế. (Gọi chung là tác giả chính).
+ Giảng viên giảng dạy các chương trình thuộc lĩnh vực nghệ thuật có thể thay thế yêu cầu tại điểm b khoản này bằng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân do nhà nước trao tặng.
Các tiêu chuẩn này giúp đảm bảo rằng giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ có kiến thức chuyên môn sâu rộng và năng lực cần thiết để đảm bảo chất lượng đào tạo trong các chương trình tiến sĩ.
Xem thêm bài viết: Thay đổi các mẫu báo cáo trong tuyển sinh đại học, thạc sĩ, tiến sĩ. Khi có thắc mắc về quy định pháp luật, hãy liên hệ ngay đến hotline 19006162 hoặc gửi thư tư vấn đến email: lienhe@luatminhkhue.vn