1. Khái niệm tang vật vi phạm hành chính

Vào ngày 14/5/2020, Bộ trưởng Bộ Công an đã kí ban hành Văn bản hợp nhất số 06/VBHN-BCA, tổng hợp Nghị định về quản lý và bảo quản tang vật cũng như phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ và tịch thu theo thủ tục hành chính. Nghị định này chi tiết các quy định về chế độ quản lý và bảo quản tang vật, phương tiện bị tạm giữ và tịch thu theo thủ tục hành chính. Nó cũng chỉ rõ trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan và người quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện bị tạm giữ và tịch thu, cũng như quyền và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan đến việc này. Nghị định này áp dụng cho tổ chức và cá nhân Việt Nam cũng như tổ chức và cá nhân nước ngoài có tang vật, phương tiện bị tạm giữ và tịch thu, cũng như cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan đến việc quản lý và bảo quản tang vật, phương tiện này.

Cụ thể theo đó, tang vật và phương tiện vi phạm hành chính bao gồm tiền Việt Nam, ngoại tệ, giấy tờ, tài liệu, chứng từ liên quan đến tài sản, chứng chỉ có giá, vàng, bạc, đá quý, kim loại quý, ma túy, vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, vật có giá trị lịch sử, giá trị văn hóa, bảo vật quốc gia, cổ vật, hàng lâm sản quý hiếm, các loại động vật, thực vật, hàng hóa, vật phẩm dễ bị hư hỏng, và các loại tài sản đặc biệt khác. Những loại tài sản không nằm trong danh sách này sẽ áp dụng theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Theo Luật xử lý vi phạm hành chính 2012, tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là vật, tiền, hàng hóa, phương tiện có liên quan trực tiếp đến vi phạm hành chính.

2. Căn cứ pháp lý

- Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012:

Luật Xử lý vi phạm hành chính được Quốc hội khóa XIII thông qua trong kỳ họp thứ 3 vào ngày 20/6/2012 với tổng cộng 142 điều, thay thế cho các Pháp lệnh trước đó bao gồm Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính số 44/2002/PL-UBTVQH10, Pháp lệnh số 31/2007/PL-UBTVQH11 và Pháp lệnh số 04/2008/PL-UBTVQH12 (PLXLVPHC). Luật này chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2013, tuy nhiên, một số quy định liên quan đến việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính do Tòa án nhân dân xem xét và quyết định có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2014.

Nội dung của Luật Xử lý vi phạm hành chính tập trung vào việc quy định các nguyên tắc cơ bản về xử lý vi phạm hành chính, các hình thức xử phạt, các biện pháp xử lý, đối tượng bị xử lý, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính và mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực quản lý nhà nước.

- Nghị định số 118/2021/NĐ-CP quy định về xử lý vi phạm hành chính:

Nghị định số 118/2021/NĐ-CP, gồm 4 Chương và 43 Điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2022, thay thế Nghị định số 81/2013/NĐ-CP của Chính phủ, điều chỉnh và bổ sung một số quy định cụ thể và biện pháp thi hành của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Ngoài ra, nó cũng thay thế Nghị định số 97/2017/NĐ-CP, ngày 18/8/2017, sửa đổi và bổ sung cho Nghị định số 81/2013/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết và thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính.

 

3. Quy tắc định giá tang vật

Theo quy định tại Điều 6 của Thông tư số 173/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính, hướng dẫn thực hiện một số nội dung về quản lý, xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính, hội đồng định giá giá trị tang vật vi phạm hành chính cần tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản sau:

- Hội đồng định giá tang vật vi phạm hành chính phải làm việc theo nguyên tắc tập thể và tôn trọng ý kiến của các thành viên, phù hợp với quy định của pháp luật. Mọi ý kiến đều được thảo luận và tôn trọng. Các phiên họp của hội đồng chỉ diễn ra khi có ít nhất 2/3 tổng số thành viên tham dự. Chủ tịch hội đồng định giá tang vật vi phạm hành chính triệu tập các phiên họp dựa trên văn bản. Trong trường hợp Chủ tịch hội đồng định giá tang vật vi phạm hành chính vắng mặt, cần ủy quyền cho một thành viên khác trong hội đồng để điều hành phiên họp.

- Mỗi thành viên trong hội đồng định giá tang vật vi phạm hành chính đều có quyền phát biểu ý kiến của mình trong quá trình tổ chức phiên họp về giá trị của tang vật vi phạm hành chính. Quyết định về giá trị của tang vật vi phạm hành chính phải được quá nửa (quá 1/2) số thành viên của hội đồng định giá tang vật vi phạm hành chính tán thành và đồng ý. Trong trường hợp biểu quyết ngang nhau, quyết định sẽ theo bên có biểu quyết của chủ tịch hoặc người được ủy quyền điều hành phiên họp định giá.

- Hội đồng định giá tang vật vi phạm hành chính sẽ lập biên bản về việc xác định giá trị của tang vật vi phạm hành chính. Biên bản này phải phản ánh đầy đủ và trung thực toàn bộ quá trình xác định giá trị tang vật vi phạm hành chính, theo mẫu do pháp luật quy định. Điều này cho thấy, trong quá trình định giá tang vật vi phạm hành chính, hội đồng cần tuân thủ các nguyên tắc hoạt động như đã nêu trên.

 

4. Quy trình định giá tang vật

Điều 60 của Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy định việc xác định giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính để định rõ khung tiền phạt và thẩm quyền xử phạt như sau:

- Trong trường hợp cần xác định giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính để làm căn cứ xác định khung tiền phạt và thẩm quyền xử phạt, người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải chịu trách nhiệm xác định giá trị đó.

- Việc xác định giá trị được thực hiện dựa trên một trong các căn cứ sau đây, ưu tiên theo thứ tự:

+ Giá niêm yết hoặc giá ghi trên hợp đồng, hóa đơn mua bán hoặc tờ khai nhập khẩu;

+ Giá theo thông báo của cơ quan tài chính địa phương; nếu không có, sẽ áp dụng giá thị trường tại thời điểm vi phạm;

+ Giá thành của tang vật, phương tiện nếu là hàng hóa chưa xuất bán; d) Đối với hàng giả, áp dụng giá thị trường của hàng hóa thật hoặc có tính chất tương đương.

- Trong trường hợp không thể áp dụng được các căn cứ tại khoản 2 để xác định giá trị, người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc có thể ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm và thành lập Hội đồng định giá. Hội đồng định giá bao gồm Chủ tịch Hội đồng, đại diện cơ quan tài chính và đại diện cơ quan chuyên môn có liên quan.

Khoản 3 của Điều 23 của Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ cũng quy định việc xác định giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính trong trường hợp tang vật, phương tiện bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép. Trong trường hợp không thể áp dụng được các căn cứ quy định tại Điều 60 của Luật Xử lý vi phạm hành chính, người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải thành lập Hội đồng định giá theo quy định tại Điều 60 của Luật trên.

Như vậy, theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 118/2021/NĐ-CP của Chính phủ, khi không thể áp dụng các căn cứ để xác định giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, cần thành lập Hội đồng định giá.

Tuy nhiên, trong thực tế, việc thành lập Hội đồng định giá theo quy định tại khoản 3 của Điều 60 Luật Xử lý vi phạm hành chính và khoản 3 của Điều 23 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP gặp phải nhiều khó khăn. Cụ thể, mặc dù Hội đồng định giá được thành lập đúng quy định, nhưng có nhiều lý do khác nhau gây ra sự cản trở, như việc có thành viên mới đảm nhận chức vụ do thay đổi nhân sự, các thành viên mới tham gia chưa có kinh nghiệm, hoặc gặp khó khăn về giao thông khi phải đi học tập trung xa cơ quan và không có người thay thế. Do đó, đôi khi Hội đồng định giá không thể tự mình xác định được giá trị của tang vật và phương tiện vi phạm hành chính.

Bài viết liên quan: Tang vật là gì? Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, hình sự khi nào?

Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!