1. TCVN 7835 - C10 : 2007 về độ bền màu với giặt bằng xà phòng hoặc xà phòng và soda

Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7835 - C10: 2007 đã được ra đời nhằm thay thế Tiêu chuẩn TCVN 4537 - 1 ÷ 5: 2002 (đã hết hiệu lực), đánh dấu một bước tiến lớn trong lĩnh vực tiêu chuẩn hóa. Việc này mang lại sự hiện đại hóa và cập nhật cho ngành công nghiệp, đồng thời thúc đẩy chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Đặc biệt, TCVN 7835 - C10: 2007 không chỉ là sự thay thế mà còn là sự nâng cấp vượt bậc với việc hoàn toàn tương đương với Tiêu chuẩn quốc tế ISO 105-C10: 2006. Điều này không chỉ đồng bộ hóa các quy định quốc gia với các tiêu chuẩn quốc tế mà còn tạo ra cơ hội cho các doanh nghiệp tham gia thị trường quốc tế một cách mạnh mẽ hơn.

Sự thành công của TCVN 7835 - C10: 2007 không chỉ đến từ quá trình soạn thảo cẩn thận mà còn là kết quả của sự nỗ lực của Ban kỹ thuật Tiêu chuẩn TCVN/TC 38 Hàng dệt. Được ủy quyền và công bố bởi Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, tiêu chuẩn này là kết quả của sự hợp tác chặt chẽ giữa cơ quan chủ quản và cộng đồng chuyên gia trong ngành. Điều này một lần nữa khẳng định cam kết của Việt Nam trong việc nâng cao chất lượng và tiêu chuẩn hóa để đáp ứng các tiêu chí quốc tế.

Phương pháp thử trong Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7835 - C10: 2007 rộng lớn khám phá ảnh hưởng của việc giặt, bằng cách sử dụng xà phòng hoặc kết hợp xà phòng và soda, đối với màu sắc của các sản phẩm dệt. Điều này mở ra một cửa sổ nhìn chi tiết vào cách mà qui trình giặt gia dụng hoặc thương mại có thể tác động đến chất lượng và bền vững của sản phẩm. Qui trình giặt được thực hiện theo cách tương tự như phép thử của ISO 105-C08, nhưng với sự khác biệt quan trọng là sử dụng xà phòng. Điều này đặt ra những thách thức và cơ hội mới trong việc đánh giá sự ổn định của màu sắc dưới tác động của các yếu tố giặt khác nhau.

Để áp dụng hiệu quả Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7835 - C10: 2007, quan trọng nhất là hiểu rõ nguyên tắc chung của phép thử, như được mô tả trong TCVN 4536: 2002 (ISO 105-A01). Bước này là quan trọng để đảm bảo tính nhất quán và chính xác trong quá trình đánh giá, đồng thời đặt cơ sở cho việc áp dụng và diễn giải đúng Tiêu chuẩn quốc gia mới, mang lại kết quả phản ánh chính xác và toàn diện về chất lượng sản phẩm dệt. Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7835 - C10: 2007, đánh dấu một bước tiến đột phá trong lĩnh vực xác định độ bền màu của vật liệu dệt, quy định đến năm phương pháp chi tiết. Điều đặc biệt là, tiêu chuẩn này không chỉ giới hạn ở mức độ độ bền màu của vật liệu, mà còn tập trung vào việc đánh giá ảnh hưởng của mọi qui trình giặt, từ nhẹ nhàng đến mạnh, áp dụng linh hoạt cho cả hàng gia dụng thông thường.

Tiêu chuẩn này mở ra không gian rộng lớn cho các nhà sản xuất và ngành công nghiệp dệt để chủ động đối mặt với nhiều yếu tố khác nhau trong quy trình giặt, từng bước từ nhẹ nhàng đến mạnh mẽ. Điều này không chỉ giúp cải thiện chất lượng sản phẩm, mà còn tăng cường khả năng thích ứng của vật liệu dệt đối với môi trường giặt đa dạng. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7835 - C10: 2007 tập trung chủ yếu vào việc đánh giá ảnh hưởng của quá trình giặt lên độ bền màu của vật liệu dệt. Điều này cho thấy sự chặt chẽ và chính xác trong việc xác định các yếu tố quyết định chất lượng của sản phẩm, mặc dù không nhằm mục đích phản ánh toàn diện kết quả của quy trình giặt.

 

2. Quy định về mẫu thử để xác định ảnh hưởng của việc giặt lên độ bền màu của vật liệu dệt

Tại Mục 6 của Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7835 - C10: 2007, quy định về mẫu thử để xác định ảnh hưởng của việc giặt đối với độ bền màu của vật liệu dệt được diễn đạt một cách chi tiết như sau:

- Đối với vật liệu dệt thử là vải, có hai phương pháp đề xuất để gắn mẫu thử:

+ Gắn một mẫu thử có kích thước 100 mm x 40 mm cùng với một miếng vải thử đi kèm với đa xơ (5.5.1) cũng có kích thước 100 mm x 40 mm. Việc này được thực hiện bằng cách khâu dọc theo một cạnh ngắn của mẫu thử, trong đó vải thử đi kèm đa xơ được đặt chặt lên bề mặt của mẫu thử.

+ Gắn một mẫu thử có kích thước 100 mm x 40 mm ở giữa giữa hai mảnh vải thử kèm theo xơ đơn (5.5.2), cũng có kích thước 100 mm x 40 mm. Quá trình này được thực hiện bằng cách khâu dọc theo một cạnh ngắn của mẫu thử, giữa hai mảnh vải thử đi kèm xơ đơn.

- Quá trình đưa sợi thành vải và thử nghiệm ở dạng này là một phần quan trọng của quá trình nghiên cứu và đánh giá chất lượng vật liệu dệt. Khi tiến hành thử nghiệm với sợi hoặc xơ rời, phương pháp sau đây được đề xuất để đảm bảo tính chuẩn xác và đầy đủ:

+ Lấy một khối lượng sợi hoặc xơ rời, ước tính khoảng một nửa khối lượng kết hợp của vải thử kèm. Đặt chúng ở giữa một miếng vải thử kèm đa xơ (5.5.1) có kích thước 100 mm x 40 mm và một miếng vải không bắt thuốc nhuộm (5.6). Quy trình này có thể được thực hiện bằng cách khâu dọc theo cả bốn cạnh, theo hướng hướng dẫn trong TCVN 4536: 2002 (ISO 105-A01).

+ Đặt chúng ở giữa hai miếng vải thử kèm xơ đơn có kích thước 100 mm x 40 mm (5.5.2). Tiếp theo, khâu dọc theo cả bốn cạnh của mẫu thử để tạo ra một quy trình chặt chẽ và chuẩn mực.

- Trong quá trình xác định tỉ lệ dung dịch, việc sử dụng cân (4.2) đóng vai trò quan trọng để đảm bảo sự chính xác trong việc đo lường khối lượng của mẫu ghép. Đây là bước cơ bản và quyết định để tính toán tỉ lệ dung dịch một cách chính xác. Bằng cách sử dụng cân, chúng ta có thể xác định trọng lượng của mẫu ghép với đơn vị gam, tạo điều kiện thuận lợi để đạt được sự chính xác tối đa trong quá trình đánh giá.

 

3. Các bước tiến hành xác định ảnh hưởng của việc giặt lên độ bền màu của vật liệu dệt

Tại Mục 7 của Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7835 - C10: 2007, phương pháp tiến hành để xác định ảnh hưởng của quá trình giặt đối với độ bền màu của vật liệu dệt được thực hiện theo các bước chi tiết sau:

- Bước 1: Bắt đầu bằng việc chuẩn bị dung dịch xà phòng (5.3), tùy thuộc vào loại phép thử đang được thực hiện.

- Bước 2: Đặt mẫu ghép vào cốc chứa, kèm theo một lượng bi thép quy định theo bảng 2. Thêm dung dịch xà phòng đã đun nóng (5.3) vào cốc theo tỉ lệ 50:1 ml/g và đậy kín. Bật máy ở nhiệt độ và thời gian quy định trong bảng dưới đây, tính từ lúc đậy kín cốc. Cần phân biệt rõ ràng giữa các thùng chứa sử dụng chất tăng trắng quang học và không sử dụng.

Số phép thử

Nhiệt độ 0C

Thời gian

Số lượng bi thép

Natri cacbonat

A(1)

40

30 phút

0

-

B(2)

50

45 phút

0

-

C(3)

60

30 phút

0

+

D(4)

95

30 phút

10

+

E(5)

95

4 giờ

10

+

Chú ý: Cốc chứa có thể bị nhiễm bẩn do chất tăng trắng quang học có mặt trong các chất tẩy khác hoặc trong chất tẩy thương mại. Điều này có thể ảnh hưởng đến độ bền màu của mẫu thử. Cần chú ý và tránh sử dụng cốc chứa bị nhiễm bẩn trong các phép thử sử dụng chất tẩy không có chất làm sáng huỳnh quang.

- Bước 3: Sau khi quá trình giặt, lấy mẫu thử ghép ra và đặt vào một cốc dung tích 4L chứa nước loại 3 (5.4) ở nhiệt độ thường. Khuấy nhẹ trong 1 phút và đặt cốc dưới dòng nước lạnh trong 1 phút để làm sạch mẫu.

- Bước 4: Tiếp theo, trong tất cả các phương pháp, loại bỏ nước dư từ mẫu thử ghép bằng cách vắt tay. Gợi ý: Mở mẫu thử ghép bằng cách cắt các đường khâu, loại trừ một cạnh ngắn nếu cần thiết để thuận tiện cho quá trình vắt.

- Bước 5: Sau khi loại bỏ nước dư, thực hiện việc làm khô mẫu thử bằng cách ép phẳng chúng giữa hai tờ giấy lọc mới. Tiếp theo, tiến hành quá trình làm khô bằng cách treo mẫu trong không khí, với nhiệt độ không vượt quá 60°C. Đặc biệt, đảm bảo các phần của mẫu thử ghép chỉ tiếp xúc ở đường khâu để duy trì tính nguyên vẹn của mẫu.

- Bước 6: Cuối cùng, đánh giá sự thay đổi màu của mẫu thử và sự dây màu của vải thử kèm bằng cách so sánh chúng với mẫu gốc. Sử dụng thang màu xám hoặc máy đo màu để đảm bảo sự chính xác. Tham khảo TCVN 5467: 2002 (ISO 105-A02); TCVN 5467: 2002 (ISO 105-A03); ISO 105-A04; ISO 105-A05; ISO 105-J03 để có hướng dẫn chi tiết và chuẩn mực.

Ngoài ra, có thể tham khảo: Muốn mở cửa hàng dịch vụ giặt ủi quy mô hộ gia đình có cần giấy phép kinh doanh. Còn khúc mắc, liên hệ 1900.6162 hoặc gửi email tới: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ. Xin cảm ơn.