1. Doanh nghiệp có được áp đặt ngày nghỉ phép cho người lao động không?
Theo quy định tại khoản 4 Điều 113 của Bộ luật Lao động 2019, việc quy định lịch nghỉ hằng năm là một quyền và trách nhiệm của người sử dụng lao động. Dưới đây là các điểm cụ thể được nêu trong quy định:
- Thanh toán tiền lương cho ngày chưa nghỉ: Trong trường hợp người lao động thôi việc hoặc mất việc mà chưa nghỉ hết số ngày phép năm, người sử dụng lao động có trách nhiệm thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ đó.
- Quy định lịch nghỉ hằng năm: Người sử dụng lao động cần quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và phải thông báo trước cho họ biết. Điều này nhấn mạnh sự tôn trọng đối với quyền lợi và ý kiến của người lao động trong quá trình quyết định lịch nghỉ.
- Thỏa thuận về lịch nghỉ: Người lao động và người sử dụng lao động có thể thỏa thuận để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần, tạo điều kiện linh hoạt và thoải mái cho cả hai bên.
- Tạm ứng tiền lương: Khi người lao động nghỉ hằng năm mà chưa đến kỳ trả lương, họ được tạm ứng tiền lương theo quy định tại khoản 3 Điều 101 của Bộ luật Lao động 2019.
- Tính thêm thời gian đi đường: Trong trường hợp người lao động đi bằng các phương tiện đường bộ, đường sắt, đường thủy và số ngày đi đường cả đi và về trên 02 ngày, từ ngày thứ 03 trở đi sẽ được tính thêm thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hằng năm và chỉ được tính cho 01 lần nghỉ trong năm.
- Chính phủ quy định chi tiết: Chi tiết hơn về quy định này sẽ được Chính phủ quy định.
Theo quy định trên thì công ty có quyền quy định lịch nghỉ hằng năm. Tuy nhiên chỉ được thực hiện sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và thông báo trước cho người lao động. Do đó, việc công ty tự áp đặt ngày nghỉ phép năm cho người lao động là không đúng quy định.
2. Có bao nhiêu ngày nghỉ phép năm dành cho người lao động?
Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 của Điều 113 Bộ Luật Lao động 2019, ngày nghỉ phép năm được quy định như sau:
- Nghỉ hằng năm cho người làm việc đủ 12 tháng:
+ 12 ngày làm việc: Đối với những người làm việc trong điều kiện bình thường.
+ 14 ngày làm việc: Đối với người lao động chưa thành niên, lao động là người khuyết tật, người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
+ 16 ngày làm việc: Đối với người làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
- Nghỉ hằng năm cho người làm việc chưa đủ 12 tháng: Số ngày nghỉ hằng năm được tính theo tỷ lệ tương ứng với số tháng làm việc. Điều này áp dụng cho những người lao động làm việc chưa đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động.
- Thanh toán tiền lương khi thôi việc hoặc mất việc làm: Trong trường hợp người lao động thôi việc hoặc mất việc làm mà chưa nghỉ hết số ngày phép năm, người sử dụng lao động có trách nhiệm thanh toán tiền lương tương ứng cho những ngày phép chưa sử dụng.
Theo đó, số ngày nghỉ phép năm của người lao động được xác định như sau:
- Người lao động làm việc đủ 12 tháng:
+ Được nghỉ 12 ngày làm việc /năm nếu người lao động làm công việc trong điều kiện bình thường.
+ Được nghỉ 14 ngày làm việc/năm nếu người lao động chưa thành niên, lao động là người khuyết tật, người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
+ Được nghỉ 16 ngày làm việc/năm nếu người lao động làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
- Người lao động làm việc chưa đủ 12 tháng thì được nghỉ số ngày nghỉ phép theo tỷ lệ tương ứng với số tháng làm việc.
Theo quy định tại Điều 114 Bộ Luật Lao động 2019, người lao động khi đủ 05 năm làm việc cho một người sử dụng lao động sẽ được hưởng quyền lợi nghỉ hằng năm tăng thêm. Cụ thể, đối với mỗi chu kỳ 05 năm làm việc, họ sẽ được tăng thêm 01 ngày nghỉ hằng năm. Điều này nhấn mạnh cam kết của pháp luật trong việc khuyến khích và động viên người lao động duy trì một môi trường làm việc ổn định và lâu dài.
Quy định này thể hiện sự quan tâm đặc biệt của pháp luật đối với chất lượng cuộc sống của người lao động và mục tiêu tạo điều kiện làm việc tích cực hơn. Bằng cách này, nó thúc đẩy sự trung thành và ổn định trong mối quan hệ lao động, góp phần tăng cường sự hài lòng và cam kết từ phía người lao động, đồng thời tạo điều kiện cho họ duy trì sự cân bằng giữa cuộc sống công việc và cá nhân.
3. Thời gian làm việc để tính số ngày nghỉ phép năm của người lao động
Theo quy định tại Điều 65 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, thời gian được coi là thời gian làm việc để tính số ngày nghỉ hằng năm của người lao động được quy định cụ thể như sau:
- Thời gian học nghề, tập nghề: Nếu sau khi hết thời gian học nghề, tập nghề mà người lao động tiếp tục làm việc cho người sử dụng lao động.
- Thời gian thử việc: Nếu người lao động tiếp tục làm việc cho người sử dụng lao động sau khi hết thời gian thử việc.
- Thời gian nghỉ việc riêng có hưởng lương: Theo khoản 1 Điều 115 của Bộ luật Lao động.
- Thời gian nghỉ việc không hưởng lương: Nếu được người sử dụng lao động đồng ý nhưng cộng dồn không quá 01 tháng trong một năm.
- Thời gian nghỉ do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp: Cộng dồn không quá 6 tháng.
- Thời gian nghỉ do ốm đau: Cộng dồn không quá 02 tháng trong một năm.
- Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản: Theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
- Thời gian thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở: Được tính là thời gian làm việc theo quy định của pháp luật.
- Thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động.
- Thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc: Sau đó được kết luận là không vi phạm hoặc không bị xử lý kỷ luật lao động.
4. Công ty có được giải quyết thanh toán bằng tiền khi người lao động không nghỉ phép năm?
Theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 113 của Bộ luật Lao động 2019, nếu người lao động làm việc chưa đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động, số ngày nghỉ hằng năm sẽ được tính tỷ lệ tương ứng với số tháng làm việc. Trong trường hợp người lao động do thôi việc, mất việc làm mà chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm, người sử dụng lao động sẽ thực hiện thanh toán bằng tiền cho những ngày chưa nghỉ đó.
Điều này có nghĩa là công ty sẽ phải thanh toán tiền lương tương đương với số ngày nghỉ hằng năm chưa sử dụng của người lao động khi họ rời khỏi công ty do thôi việc, mất việc làm, hoặc vì các lý do khác mà chưa nghỉ hết quy định. Mức tiền thanh toán sẽ được tính dựa trên mức lương cơ bản hoặc mức lương cuối cùng mà người lao động đang nhận.
Như vậy, theo quy định trên thì đối với trường hợp người lao động do thôi việc, bị mất việc làm hoặc vì các lý do khác mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì công ty bạn sẽ phải thanh toán bằng tiền những ngày chưa nghỉ cho người lao động.
Quý khách có nhu cầu xem thêm bài viết sau: Cách tính ngày nghỉ phép năm, chế độ nghỉ hàng năm theo luật?
Nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có câu hỏi cần được giải đáp, xin vui lòng không ngần ngại liên hệ với chúng tôi thông qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Đội ngũ chuyên gia của chúng tôi sẵn sàng lắng nghe và cung cấp sự tư vấn chuyên nghiệp để giúp quý khách giải quyết mọi vấn đề một cách hiệu quả và đúng luật. Ngoài ra, quý khách hàng cũng có thể gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc một cách nhanh chóng. Chúng tôi cam kết đáp ứng mọi yêu cầu của quý khách hàng một cách chu đáo và chất lượng.