1. Loại hình doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán được phép thành lập

Các loại hình mà doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán được thành lập quy định tại khoản 1 Điều 59 Luật Kế toán 2015 như sau:

- Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán có thể được thành lập theo các hình thức sau: Công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên; Công ty hợp danh; Doanh nghiệp tư nhân. 

- Doanh nghiệp chỉ được hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ kế toán khi đáp ứng các điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật này và có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán. Điều này nhấn mạnh rằng để hoạt động hợp pháp trong lĩnh vực dịch vụ kế toán, doanh nghiệp phải tuân thủ đầy đủ các quy định và điều kiện được quy định trong Luật, cũng như có Giấy chứng nhận đủ điều kiện từ cơ quan có thẩm quyền. Điều này giúp đảm bảo rằng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này đáp ứng được các tiêu chuẩn và yêu cầu cần thiết để đảm bảo chất lượng và tính chuyên nghiệp.

- Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán không được đầu tư vốn để thành lập các doanh nghiệp kế toán khác, ngoại trừ trường hợp đầu tư vốn cùng với doanh nghiệp kế toán nước ngoài để thành lập doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán tại Việt Nam. Điều này giúp hạn chế các trường hợp xâm phạm vào cạnh tranh và giữ cho thị trường kế toán ổn định, đồng thời đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong hoạt động kinh doanh.

- Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán nước ngoài có thể thực hiện hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán tại Việt Nam theo các hình thức sau: Góp vốn cùng với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán đã được thành lập và hoạt động tại Việt Nam để thành lập doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán; Thành lập chi nhánh của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán nước ngoài; Cung cấp dịch vụ qua biên giới theo quy định của Chính phủ. Các hình thức này cho phép các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán nước ngoài tham gia vào thị trường kế toán Việt Nam một cách hợp pháp và tuân thủ các quy định pháp luật. Điều này có thể tạo ra cơ hội hợp tác quốc tế và nâng cao chất lượng dịch vụ kế toán cho cả hai bên.

Theo quy định trên, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán có thể được thành lập theo các hình thức sau: Công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên; Công ty hợp danh; Doanh nghiệp tư nhân. Điều này cho phép các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán có sự linh hoạt trong việc chọn lựa hình thức tổ chức phù hợp với quy mô, mục tiêu và yêu cầu kinh doanh của họ. Tùy thuộc vào nhu cầu và điều kiện cụ thể, họ có thể chọn một trong ba hình thức trên để thành lập và hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán.

 

2. Trường hợp doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán bị đình chỉ kinh doanh

Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán sẽ bị đình chỉ hoạt động kinh doanh theo các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Kế toán 2015 như sau: Đình chỉ hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán và thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán, cũng như Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

- Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán sẽ bị đình chỉ hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán khi: Không tuân thủ một, một số hoặc toàn bộ các điều kiện quy định tại Điều 60 của Luật này trong 03 tháng liên tục; Có vi phạm về chuyên môn hoặc chuẩn mực kế toán, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán gây ra hậu quả nghiêm trọng hoặc có khả năng gây ra hậu quả nghiêm trọng. Điều này là để đảm bảo tính chất chuyên nghiệp và đạo đức trong lĩnh vực kế toán, cũng như giữ cho các doanh nghiệp tuân thủ các quy định và điều kiện được đề ra.

- Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán sẽ bị thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán trong các trường hợp sau đây: Khi kê khai không chính xác hoặc gian lận, giả mạo hồ sơ để có được Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán; Không hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán trong 12 tháng liên tục; Không khắc phục được vi phạm trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày bị đình chỉ; Do bị giải thể, phá sản hoặc chấm dứt hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán; Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc tài liệu khác có giá trị tương đương; Thực hiện sai lệch hoặc hợp tác để thực hiện sai lệch tài liệu kế toán, báo cáo tài chính và cung cấp thông tin, số liệu báo cáo không đúng sự thật; Giả mạo, xóa sửa hoặc thay đổi Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán.

Theo đó, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán sẽ bị đình chỉ hoạt động kinh doanh trong các trường hợp sau:

- Không tuân thủ một, một số hoặc toàn bộ các điều kiện quy định tại Điều 60 của Luật này trong 03 tháng liên tục. Điều này cho thấy rằng tuân thủ các quy định và điều kiện được quy định trong Điều 60 là rất quan trọng để duy trì hoạt động kinh doanh hợp pháp và tránh bị đình chỉ.

- Có vi phạm về chuyên môn hoặc chuẩn mực kế toán, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán gây ra hậu quả nghiêm trọng hoặc có khả năng gây ra hậu quả nghiêm trọng. Việc này nhấn mạnh rằng sự tuân thủ các chuẩn mực và quy định về chuyên môn và đạo đức là rất quan trọng để duy trì uy tín và tính chuyên nghiệp trong ngành kế toán.

Lưu ý: Trường hợp doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán không khắc phục được các vi phạm trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày bị đình chỉ, Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán sẽ bị thu hồi. Điều này chỉ ra rằng việc khắc phục và tuân thủ các quy định sau khi bị đình chỉ là cực kỳ quan trọng để tránh mất giấy phép kinh doanh.

 

3. Thời gian doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán thông báo khi thay đổi danh sách kế toán viên 

Thời hạn mà doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán phải thông báo với Bộ Tài chính khi có sự thay đổi trong danh sách kế toán viên theo quy định tại khoản 1 Điều 66 của Luật Kế toán 2015 như sau: Khi có bất kỳ sự thay đổi nào trong các nội dung sau đây, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán phải gửi thông báo bằng văn bản đến Bộ Tài chính trong thời hạn 10 ngày, tính từ ngày có sự thay đổi: 

Danh sách kế toán viên hoạt động tại doanh nghiệp; Không đáp ứng một, một số hoặc tất cả các điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán quy định tại Điều 60 của Luật này; Thông tin về tên, địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp; Thông tin về Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật, và tỷ lệ vốn góp của các thành viên; Quyết định tạm ngừng kinh doanh dịch vụ kế toán; Thông tin về việc thành lập, chấm dứt hoạt động hoặc thay đổi tên, địa chỉ trụ sở của chi nhánh kinh doanh dịch vụ kế toán; Mọi hoạt động liên quan đến việc chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi, hoặc giải thể.

Vì vậy, khi có bất kỳ sự thay đổi nào trong danh sách kế toán viên, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán phải thông báo cho Bộ Tài chính trong thời hạn 10 ngày, tính từ ngày có sự thay đổi. Việc thông báo sớm và đầy đủ về các thay đổi này giúp Bộ Tài chính có thông tin chính xác và cập nhật về hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán, đồng thời đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật.

Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết Kinh doanh dịch vụ kế toán là gì? Quy định về kiểm tra hoạt động dịch vụ kế toán. Nếu có bất cứ vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng!