- 1. Giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ ngân hàng gồm giám định tư pháp trong những hoạt động nào?
- 2. Những đối tượng nào không được bổ nhiệm giám định viên tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ ngân hàng?
- 3. Thẩm quyền bổ nhiệm giám định viên tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ ngân hàng thuộc về ai?
- 4. Hồ sơ bổ nhiệm, cấp thẻ giám định viên tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng
1. Giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ ngân hàng gồm giám định tư pháp trong những hoạt động nào?
Theo Điều 3 của Thông tư 14/2020/TT-NHNN về phạm vi giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, ngành này bao gồm nhiều lĩnh vực quan trọng được xác định cụ thể. Phạm vi giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng bao gồm năm khía cạnh chính.
Đầu tiên, giám định tư pháp liên quan đến tiền giấy và tiền kim loại do Ngân hàng Nhà nước phát hành, đảm bảo rằng các loại tiền này tuân thủ đúng các quy định và tiêu chuẩn được đề ra.
Thứ hai, giám định tư pháp về hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng, nhằm kiểm soát và đánh giá các giao dịch liên quan đến ngoại tệ và vàng, đặc biệt là trong bối cảnh thị trường quốc tế có những biến động không lường trước được.
Thứ ba, giám định tư pháp trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng, bao gồm cấp tín dụng, nhận tiền gửi, và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Điều này giúp đảm bảo tính minh bạch, công bằng và an toàn của các giao dịch ngân hàng.
Thứ tư, giám định tư pháp liên quan đến bảo hiểm tiền gửi, nhằm đảm bảo sự ổn định và an toàn cho các khoản tiền được gửi vào các tổ chức tài chính.
Cuối cùng, giám định tư pháp còn bao gồm các hoạt động khác liên quan đến tiền tệ và ngân hàng, nằm trong chức năng quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước theo quy định của pháp luật. Điều này bao gồm việc kiểm soát và quản lý các hoạt động có liên quan đến tiền tệ và ngân hàng nhằm duy trì ổn định và sự minh bạch trong hệ thống tài chính quốc gia.
Ngoài ra, Theo Điều 6 Luật Giám định tư pháp 2012 (sửa đổi 2020), các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động giám định tư pháp như sau:
- Từ chối đưa ra kết luận giám định tư pháp mà không có lý do chính đáng.
- Cố ý đưa ra kết luận giám định tư pháp sai sự thật.
- Cố ý kéo dài thời gian thực hiện giám định tư pháp hoặc lợi dụng việc trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp để gây khó khăn, cản trở hoạt động tố tụng.
- Lợi dụng việc thực hiện giám định tư pháp để trục lợi.
- Tiết lộ bí mật thông tin mà mình biết được khi tiến hành giám định tư pháp.
- Xúi giục, ép buộc người giám định tư pháp đưa ra kết luận giám định tư pháp sai sự thật.
- Can thiệp, cản trở việc thực hiện giám định của người giám định tư pháp.
2. Những đối tượng nào không được bổ nhiệm giám định viên tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ ngân hàng?
Theo điểm a khoản 1 Điều 5 Thông tư 14/2020/TT-NHNN về tiêu chuẩn giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc, việc xem xét và bổ nhiệm giám định viên tư pháp đối với công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam được quy định cụ thể. Các tiêu chuẩn quan trọng bao gồm:
- Tiêu chuẩn quy định tại điểm a khoản 1 Điều 7 Luật Giám định tư pháp: Công dân cần đáp ứng đủ tiêu chuẩn quy định tại điểm a khoản 1 Điều 7 Luật Giám định tư pháp và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 7 Luật Giám định tư pháp.
- Trình độ đại học thuộc các chuyên ngành đào tạo: cần có trình độ đại học trở lên trong các chuyên ngành như tài chính - ngân hàng; kế toán; kinh tế; luật; công nghệ thông tin, mỹ thuật, công nghệ kỹ thuật in và công nghệ hóa học. Trình độ này phải được cơ sở giáo dục của Việt Nam đào tạo theo quy định hoặc được cơ sở giáo dục nước ngoài đào tạo và công nhận để sử dụng tại Việt Nam.
- Thời gian hoạt động chuyên môn ở lĩnh vực được đào tạo từ 5 năm trở lên, tính từ ngày bổ nhiệm ngạch công chức, viên chức hoặc ký hợp đồng lao động, phù hợp với lĩnh vực mà người đó được bổ nhiệm làm giám định viên tư pháp.
- Trường hợp người không có trình độ đại học: Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam không có trình độ đại học, nhưng được đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về lĩnh vực quy định và có ít nhất 5 năm kinh nghiệm thực tiễn trở lên ở lĩnh vực đó, có thể được lựa chọn làm người giám định tư pháp theo vụ việc.
Ngoài ra, khoản 2 Điều 7 Luật Giám định tư pháp 2012 sửa đổi bổ sung năm 2020 quy định rõ những trường hợp không được bổ nhiệm giám định viên tư pháp, như mất năng lực hành vi dân sự, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, hoặc đang bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính giáo dục. Điều này đảm bảo tính chất chính xác, chuyên nghiệp và trách nhiệm của người giám định tư pháp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình.
3. Thẩm quyền bổ nhiệm giám định viên tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ ngân hàng thuộc về ai?
Theo Điều 4 Thông tư 14/2020/TT-NHNN, quy định về thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cấp, thu hồi thẻ giám định viên tư pháp; công nhận, hủy bỏ công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc; và thành lập Hội đồng giám định, quản lý thẩm quyền được phân chia rõ ràng giữa các cấp quản lý trong hệ thống ngân hàng.
Theo đó, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đảm nhận thẩm quyền chủ chốt trong quá trình quản lý giám định viên tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng. Thống đốc có các thẩm quyền sau:
Bổ nhiệm và miễn nhiệm giám định viên tư pháp: Thống đốc có quyền quyết định việc bổ nhiệm và miễn nhiệm giám định viên tư pháp trong hệ thống ngân hàng, đảm bảo sự chọn lựa kỹ càng và đúng đắn của đội ngũ giám định viên.
Cấp, thu hồi thẻ giám định viên tư pháp: Thống đốc có thẩm quyền quyết định về việc cấp thẻ giám định viên tư pháp cho các chuyên gia được bổ nhiệm, đồng thời cũng có thẩm quyền thu hồi thẻ nếu có lý do nào đó.
Công nhận, hủy bỏ công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc: Thống đốc có thẩm quyền công nhận và hủy bỏ công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc, đặc biệt là đối với những người giám định tư pháp thuộc các đơn vị thuộc quản lý của Ngân hàng Nhà nước.
Thành lập Hội đồng giám định: Quyền thành lập Hội đồng giám định, có nhiệm vụ quản lý và đánh giá hoạt động của giám định viên tư pháp, thuộc thẩm quyền của Thống đốc.
Ngoài ra, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền công nhận và hủy bỏ công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc tại đơn vị mình. Điều này tạo ra một hệ thống quản lý linh hoạt và hiệu quả, đồng thời đảm bảo tính chất chuyên nghiệp và đáng tin cậy của người giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.
4. Hồ sơ bổ nhiệm, cấp thẻ giám định viên tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng
Đầu tiên, hồ sơ bổ nhiệm và cấp thẻ giám định viên tư pháp cần kèm theo văn bản đề nghị của Thủ trưởng đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước nơi người được đề nghị bổ nhiệm đang công tác. Đây là bước quan trọng để đảm bảo tính chính xác và chuyên nghiệp trong quá trình đề xuất bổ nhiệm.
Thứ hai, hồ sơ phải bao gồm bản sao có chứng thực các văn bằng chứng minh chuyên ngành được đào tạo theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 5 Thông tư 14/2020/TT-NHNN, phù hợp với lĩnh vực chuyên môn được đề nghị bổ nhiệm. Đồng thời, cần có văn bản công nhận của cấp có thẩm quyền đối với văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp.
Thứ ba, sơ yếu lý lịch của người được đề nghị bổ nhiệm cần có xác nhận của cấp có thẩm quyền, đồng thời điều này cũng giúp đảm bảo tính minh bạch và đáng tin cậy của người đó.
Tiếp theo, hồ sơ yêu cầu xác nhận thời gian hoạt động chuyên môn của người được đề nghị bổ nhiệm theo Phụ lục 01 ban hành kèm theo Thông tư 14/2020/TT-NHNN. Điều này nhấn mạnh vào yếu tố kinh nghiệm và chuyên môn trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.
Cuối cùng, hồ sơ cần bao gồm 02 ảnh cỡ 2cm x 3cm, tuân thủ quy định của Bộ Tư pháp. Tất cả các thành phần hồ sơ này cùng nhau tạo thành một hồ sơ đầy đủ và chính xác, đảm bảo quy trình bổ nhiệm và cấp thẻ giám định viên tư pháp diễn ra một cách minh bạch và chuyên nghiệp.
Trên đây là toàn bộ thông tin mà chúng tôi đưa ra về vấn đề này, quý khách có thể tham khảo thêm bài viết liên quan cùng chủ đề của Luật Minh Khuê như: Huỷ bỏ công nhận giám định viên tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ công khai được không? Nếu quý khách có nhu cầu cần tư vấn pháp luật liên quan thì hãy liên hệ với chúng tôi qua hotline 19006162 hoặc email lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng./.