1. Đối tượng nào phải trả tiền dịch vụ môi trường rừng
Theo quy định tại Điều 57 của Nghị định số 156/2018/NĐ-CP, các đối tượng phải trả tiền dịch vụ môi trường rừng bao gồm:
- Cơ sở sản xuất thủy điện: Đây là các cơ sở sản xuất điện từ nguồn nước trong rừng. Quy định chi tiết về cơ sở sản xuất thủy điện.
- Cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch: Đây là các cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch từ nguồn nước trong rừng.
- Cơ sở sản xuất công nghiệp: Đây là các cơ sở sản xuất công nghiệp sử dụng nước từ nguồn nước trong rừng để phục vụ cho quá trình sản xuất. Đây bao gồm các cơ sở sản xuất công nghiệp thuộc các ngành nghề được quy định hiện hành.
- Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí: Đây là các tổ chức và cá nhân kinh doanh các dịch vụ du lịch trong khu rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng của chủ rừng. Các hoạt động dịch vụ lữ hành, vận tải khách du lịch, lưu trú du lịch, dịch vụ ăn uống, mua sắm, thể thao, vui chơi giải trí, chăm sóc sức khỏe, tham quan, quảng cáo và các dịch vụ liên quan khác thuộc phạm vi này đều phải chi trả trực tiếp theo quy định tại khoản 1 Điều 58 của Nghị định số 156/2018/NĐ-CP.
- Đối với tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh gây phát thải khí nhà kính lớn: Đối với những tổ chức, cá nhân gây phát thải khí nhà kính lớn theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 63 của Luật Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ tổ chức thí điểm quy định chi tiết về đối tượng, hình thức chi trả, mức chi trả, quản lý và sử dụng tiền chi trả dịch vụ về hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng.
- Cơ sở nuôi trồng thủy sản quy định tại điểm e khoản 2 Điều 63 của Luật Lâm nghiệp là doanh nghiệp nuôi trồng thủy sản hoặc doanh nghiệp liên kết với các hộ gia đình, cá nhân nuôi trồng thủy sản thực hiện chi trả trực tiếp.
Như vậy, theo quy định thì đối tượng phải trả tiền dịch vụ môi trường rừng bao gồm các cơ sở sản xuất thủy điện, cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch, cơ sở sản xuất công nghiệp sử dụng nước từ nguồn nước phục vụ cho sản xuất công nghiệp, tổ chức và cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí, đối tượng gây phát thải khí nhà kính lớn, cơ sở nuôi trồng thủy sản. Tùy thuộc vào từng đối tượng, hình thức và mức đóng tiền dịch vụ môi trường rừng sẽ được quy định cụ thể. Việc đóng tiền dịch vụ môi trường rừng là một phương thức để đảm bảo nguồn lực và môi trường rừng được bảo vệ, duy trì và phát triển bền vững. Nhờ vào việc thu tiền từ các đối tượng trên, chính phủ và các cơ quan quản lý có nguồn tài chính để đầu tư vào việc bảo vệ, quản lý và phục hồi môi trường rừng. Ngoài ra, việc đóng tiền dịch vụ môi trường rừng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự chịu trách nhiệm và tham gia của các đối tượng trong việc bảo vệ môi trường rừng. Điều này tạo động lực để các cơ sở sản xuất, tổ chức kinh doanh và cá nhân liên quan đều phải cân nhắc và đảm bảo việc sử dụng và tận dụng nguồn lợi từ môi trường rừng một cách bền vững và có trách nhiệm.
2. Hình thức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng
Hình thức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng được quy định tại Điều 58 của Nghị định 156/2018/NĐ-CP như sau:
- Chi trả trực tiếp cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng: Người sử dụng dịch vụ môi trường rừng trả tiền trực tiếp cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng dựa trên hợp đồng thỏa thuận tự nguyện, theo quy định tại điểm a và điểm c khoản 3 Điều 63 của Luật Lâm nghiệp.
- Chi trả qua Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng: Người sử dụng dịch vụ môi trường rừng chi trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng thông qua Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng, theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 63 của Luật Lâm nghiệp. Hình thức này áp dụng trong trường hợp bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng và người sử dụng dịch vụ môi trường rừng không thống nhất được việc ký kết hợp đồng trực tiếp.
Vì vậy, khi tiến hành chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng, tuỳ vào từng trường hợp, có hai hình thức chi trả: trả trực tiếp cho nhà cung ứng dịch vụ môi trường rừng hoặc trả cho nhà cung ứng dịch vụ môi trường rừng thông qua Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng. Áp dụng đúng hình thức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng là điều quan trọng để đảm bảo quyền lợi và trách nhiệm của các bên liên quan và góp phần bảo vệ và phát triển rừng nguồn lợi quan trọng cho môi trường và xã hội.
3. Cách xác định số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng
Theo quy định tại Điều 59 Nghị định 156/2018/NĐ-CP quy định mức chi trả và xác định số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng như sau:
- Đối với cơ sở sản xuất thủy điện:
+ Mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng áp dụng là 36 đồng/kWh điện thương phẩm.
+ Sản lượng điện để tính tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng được xác định dựa trên số kWh điện thương phẩm bán cho bên mua điện theo hợp đồng mua bán điện.
- Đối với cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch:
+ Mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng áp dụng là 52 đồng/m3 nước thương phẩm.
+ Sản lượng nước để tính tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng được tính dựa trên số m3 nước thương phẩm bán cho người tiêu dùng.
- Đối với cơ sở sản xuất công nghiệp sử dụng nước từ nguồn nước:
+ Mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng áp dụng là 50 đồng/m3 nước.
+ Khối lượng nước để tính tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng được xác định theo đồng hồ đo nước hoặc theo lượng nước được cơ quan có thẩm quyền cấp phép hoặc theo chứng từ mua bán nước giữa cơ sở sản xuất công nghiệp và đơn vị kinh doanh nước.
- Đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí:
+ Mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng tối thiểu bằng 1% trên tổng doanh thu thực hiện trong kỳ.
+ Mức chi trả cụ thể được thỏa thuận dựa trên cơ sở và điều kiện thực tiễn giữa bên cung ứng và bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng.
- Đối với doanh nghiệp nuôi trồng thủy sản hoặc doanh nghiệp liên kết với các hộ gia đình, cá nhân nuôi trồng thủy sản:
+ Mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng tối thiểu bằng 1% tổng doanh thu thực hiện trong kỳ.
+ Mức chi trả cụ thể được thỏa thuận dựa trên cơ sở và điều kiện thực tiễn giữa bên cung ứng và bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng.
- Trong trường hợp giá bán lẻ điện, nước biến động tăng hoặc giảm 20%, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ quyết định điều chỉnh mức chi trả dịch vụ môi trường rừng tương ứng.
Như vậy, mức chi trả dịch vụ môi trường rừng được xác định dựa trên các tiêu chí khác nhau và thỏa thuận giữa bên cung ứng và bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng, tùy thuộc vào ngành nghề và điều kiện cụ thể. Mức chi trả dịch vụ môi trường rừng được xác định dựa trên sản lượng điện, nước hoặc khối lượng nước đã sử dụng, và trong trường hợp các doanh nghiệp nuôi trồng thủy sản, tổ chức du lịch sinh thái, mức chi trả tối thiểu được quy định bằng một phần trăm trên tổng doanh thu thực hiện trong kỳ. Các mức chi trả cụ thể sẽ được thỏa thuận dựa trên cơ sở và điều kiện thực tế giữa bên cung ứng và bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng. Đồng thời, Nghị định cũng quy định về việc điều chỉnh mức chi trả dịch vụ môi trường rừng khi giá bán lẻ điện, nước biến động. Việc áp dụng các mức chi trả này nhằm đảm bảo sự đóng góp công bằng và bền vững của các hoạt động kinh doanh vào bảo vệ môi trường rừng.
Quý khách hàng có nhu cầu thì tham khảo thêm nội dung bài viết sau của công ty Luật Minh khuê:
- Mức chi trả và xác định số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng
- Dịch vụ môi trường rừng là gì? Các loại dịch vụ môi trường rừng?
- Quy định của pháp luật về dịch vụ môi trường rừng
Công ty Luật Minh Khuê mong muốn gửi đến quý khách hàng những thông tin tư vấn hữu ích. Nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có câu hỏi cần được giải đáp, hãy liên hệ với Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Hoặc quý khách hàng gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng. Xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý khách hàng!