Trong đồng phạm có tổ chức, mỗi người đồng phạm đều chịu sự điều khiển chung, thống nhất và coi hình thức phạm tội này như là công cụ sức mạnh, cho phép có điều kiện chuẩn bị tốt hơn, thực hiện liên tục hơn, gây hậu quả lớn hơn, che giấu tội phạm tốt hơn... so với trường hợp đồng phạm thông thường. Vì vậy, đồng phạm có tổ chức được quy định trong luật là tình tiết định khung hình phạt tăng nặng của một số tội hoặc là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của các tội phạm còn lại nói chung.

Phân tích các nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm

Việc xác định trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm vừa phải tuân thủ những nguyên tắc chung được áp dụng cho tất cả những trường hợp phạm tội, vừa phải tuân thủ những nguyên tắc riêng cho trường hợp đồng phạm. Theo luật hình sự Việt Nam, việc xác định trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm phải tuân thủ các nguyên tắc riêng sau:

1. Nguyền tắc chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm

Trong đồng phạm, tội phạm được thực hiện là do sự nỗ lực hợp sức chung của tất cả những người cùng tham gia. Hành vi của mỗi người là bộ phận cần thiết trong hoạt động chung đó. Hậu quả thiệt hại của tội phạm là kết quả hoạt động chung của tất cả những người đồng phạm. Hơn nữa, bản thân tội phạm cũng là thể thống nhất. Do vậy, không thể chia cắt tội phạm để buộc mỗi người đồng phạm phải chịu trách nhiệm về một phần của tội phạm.

Theo nguyên tắc này, luật hình sự Việt Nam xác định:

- Tất cả những người đồng phạm đều bị truy tố, xét xử về cùng tội danh, theo cùng điều luật và trong phạm vi chế tài điều luật ấy quy định.

- Các nguyên tắc chung về việc truy cứu trách nhiệm hình sự, về quyết định hình phạt, về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm mà những người đồng phạm đã thực hiện được áp dụng chung cho tất cả...

2. Nguyên tắc chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện vụ đồng phạm

Trong vụ đồng phạm, mỗi người đồng phạm tuy phải chịu trách nhiệm chung về tội phạm mà họ cùng thực hiện, nhưng do trách nhiệm hình sự là trách nhiệm cá nhân nên việc xác định trách nhiệm hình sự cho từng người đồng phạm vẫn phải dựa trên cơ sở hành vi cụ thể của mỗi người. Do đó, luật hình sự Việt Nam đã xác định nguyên tắc thứ hai trong việc xác định trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm là "mỗi người đồng phạm phải chịu trách nhiệm độc lập" về việc cùng thực hiện tội phạm.

>> Xem thêm:  Nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm ?

Nguyên tắc này thể hiện ở chỗ:

- Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm về hành vi vượt quá của người đồng phạm khác. Trong đó, hành vi vượt quá của người đồng phạm được hiểu là hành vi vượt ra ngoài ý định chung của những người đồng phạm và hành vi này có thể cấu thành tội phạm khác hoặc thoả mãn dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng. Ví dụ: A và B đã bàn bạc và thống nhất sẽ vào trộm cắp tài sản nhà anh X. Trong khi A đứng gác, B đã bí mật vào nhà anh X. Trong khi đang lấy tài sản, B đã bị anh X phát hiện và bắt giữ. B đã đánh anh X bị thương để tẩu thoát. Việc làm này nằm ngoài kế hoạch của A và B. Hành vi gây thương tích của B có thể cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác (Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017) hoặc thoả mãn dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng của tội trộm cắp tài sản (điểm đ khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017). Điều này tuỳ thuộc vào mức độ thương tích gây ra cho nạn nhân.

- Việc miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt đối với người đồng phạm này không loại trừ trách nhiệm hình sự của những ngưòi đồng phạm khác.

- Hành vi của người tổ chức, xúi giục hay giúp sức dù chưa đưa đến việc thực hiện tội phạm vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

- Hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người đồng phạm này không loại trừ trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm khác...

3. Nguyên tắc cá thể hoá trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm

Trong vụ đồng phạm, những người tham gia tuy phạm cùng một tội nhưng tính chất và mức độ tham gia của họ không giống nhau, hành vi tham gia của mỗi người có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội riêng. Do vậy, trách nhiệm hình sự của mỗi người phải được xác định khác nhau.

Thể hiện nguyên tắc này, luật hình sự Việt Nam xác định chính sách hình phạt của Nhà nước là "Nghiêm trị kết hợp với khoan hồng". Đó là "nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối... khoan hồng đối với người tự thứ, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội..." (khoản 2 Điều 3 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

Chính sách này được thể hiện đặc biệt rõ trong đường lối xét xử các vụ đồng phạm về tội xâm phạm an ninh quốc gia. Bởi vì trong các vụ án này, bên cạnh người cầm đầu, chủ mưu, hoạt động đắc lực còn có khá đông phạm tội do bị lừa phỉnh, ép buộc...

Chính sách nghiêm trị kết hợp với khoan hồng cũng được thể hiện rõ trong các vụ đồng phạm về các tội phạm khác nếu trong các vụ đồng phạm này có sự phân hoá rõ rệt hai loại người - một bên là người cầm đầu và một bên là những người nhất thời phạm tội.

>> Xem thêm:  Nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự về tạm giam, tạm giữ khi điều tra hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Phân tích tình tiết “Có tính chất côn đồ” trong tội “Giết người” có đồng phạm ?