1. Chạy án hình sự là gì?
Trong các quy định của pháp luật hình sự hiện nay không có giải thích hay khái niệm chạy án là gì, tuy nhiên thực tế có thể hiểu chạy án hình sự là việc dùng mọi thủ đoạn để làm sai lệnh, bóp méo và thậm chí là xoay chuyển vụ án hình sự theo hướng có lợi cho người phạm tội. Lúc này, việc áp dụng hình phạt với người phạm tội là không tương xứng với lỗi, hành vi vi phạm pháp luật hình sự của người phạm tội. Do đó sẽ không tạo được sức răn đe, tính giáo dục càng không làm cho việc thực thi quy định pháp luật trong xã hội bị giảm sút.
Chạy án hình sự là một hành vi đặc biệt, đặc biệt không chỉ ở chủ thể thực hiện mà còn đặc biệt ở lĩnh vực, phạm vi. Về chủ thể sẽ có hai nhóm chủ thể chính đó chính là người phạm tội hoặc có thể là những người liên quan đến người phạm tội (người thân, bạn bè hoặc nhóm chủ thể vì lợi ích khác) và nhóm thứ hai chính là những người nhận chạy án hình sự. Về nhóm đầu, người phạm tội theo quy định sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi, hậu quả mà mình gây ra theo đúng quy định của bộ luật hình sự nhưng vì không muốn, lo sợ có thể bị áp dụng chế tài xử lý quá cao hoặc có thể không muốn bị truy cứu trách nhiệm hình sự mặc dù hành vi của mình đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự. Về nhóm đầu tiên thì các chủ thể này có thể đối mặt với việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi đưa hối lộ, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ... tùy thuộc vào hành vi đáp ứng đủ cấu thành tội phạm của tội danh này thì sẽ bị truy cứu về tội danh đó. Còn về nhóm thứ hai thực chất cũng không có quy định nào khống chế họ phải là ai, chủ thể nào nhưng chủ yếu sẽ liên quan đến người có chức vụ, quyền hạn có thể tác động, "xoay chuyển tình thế" của vụ án hình sự mà người chạy án yêu cầu. Chủ thể nhận chạy án hình sự cũng sẽ là một trong các căn cứ để xác định tội danh của người nhận chạy án.
Có một thực tế không thể phủ nhận hiện nay là việc chạy án hình sự đã trở nên tinh vi hơn lúc trước rất nhiều không chỉ ở quy mô, số lượng mà các chủ thể tham gia cũng ngày càng đáng quan tâm. Việc tâm lý lo sợ của người phạm tội khi phải đối diện với việc bị xử lý hình sự là điều đương nhiên nhưng không vì thế pháp luật cho phép bất kỳ chủ thể nào tác động vào vụ án làm sai lệch bản chất sự thật của vụ án. Hiện nay, việc lợi dụng tâm lý của người phạm tội những đối tượng có chức vụ, quyền hạn hoặc thậm chí không có chức vụ, quyền hạn cũng đã tác động, thậm chí là gợi ý người phạm tội về việc chạy án. Các hành vi này không chỉ làm giảm nhẹ tội cho bị cáo trái quy định của pháp luật mà còn ảnh hưởng đến nền tư pháp mà chúng ta đang xây dựng và hướng tới.
2. Chạy án hình sự thì người nhận chạy án sẽ bị truy cứu về tội gì?
Như đã trao đổi ở trên thì tùy thuộc vào đối tượng, hành vi và mức độ nghiêm trọng thì các chủ thể chạy án hình sự sẽ phải đối diện với các tội danh tương xứng với hành vi vi phạm mà mình gây ra.
- Trường hợp 1: Người chạy án hình sự có chức vụ, quyền hạn tức là trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của họ thì có thể tác động vào bản chất, sự thật của vụ án thì người nhận chạy án có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nhận hối lộ (Điều 354 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017); tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017) hoặc các tội danh khác nếu đủ căn cứ.
Về tội nhận hối lộ thì hành vi cơ bản là người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ thì sẽ bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm và cao nhất của tội danh này có thể đối mặt là phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình nếu của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên hoặc gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên. Ngoài ra người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản nếu áp dụng trong trường hợp này thì đây là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn (chủ thể đặc biệt) lợi dụng công việc, vị trí việc làm, nhiệm vụ của mình để nhận chạy án hình sự đặc điểm của tội danh này là chủ thể nhận chạy án mặc dù có chức vụ, quyền hạn tức là có thể tác động vào quá trình làm rõ vụ án nhưng hành vi của người phạm tội lại là nhận tài sản rồi dùng chức vụ, quyền hạn của mình để chiểm đoạt tài sản đó tức là dùng thủ đoạn chứ không thực hiện làm theo yêu cầu của bên chạy án hình sự. Tùy thuộc vào giá trị của tài sản chiếm đoạt mà người phạm tội có thể phải chịu chế tài xử phạt từ 01 năm tù đến cao nhất là phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân. Ngoài ra người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
- Trường hợp 2: Nếu người nhận chạy án hình sự không có chức vụ, quyền hạn thì có thể bị truy cứu về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 của BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017) bởi vì người không có chức vụ, quyền hạn thì không thể can thiệp và thực hiện làm sai lệch sự thật vụ án nhằm chạy án cho người phạm tội được nên việc nhận tiền thực chất là để nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. Với trường hợp này thì người phạm tội sẽ phải đối diện với mức án thấp nhất là cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm và nặng nhất là phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
3. Đưa 2,7 tỷ đồng để chạy án hình sự thì phạm tội gì?
Việc đưa 2,7 tỷ đồng để chạy án là hành vi đưa hối lộ và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đưa hối lộ theo quy định tại Điều 364 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 cụ thể nếu người nào trực tiếp hay qua trung gian đã đưa hoặc sẽ đưa cho người có chức vụ, quyền hạn hoặc người khác hoặc tổ chức khác bất kỳ lợi ích nào sau đây để người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm nếu tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc lợi ích phi vật chất. Hoặc thậm chí là sẽ phải đối diện với mức án tù từ 12 năm đến 20 năm.
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Ngoài ra, người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ. Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.
Với hành vi đưa hối lộ 2,7 tỷ đồng thì người vi phạm có thể bị truy cứu theo khoản 4 Điều 364 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và phải đối diện với mức án tù từ 12 năm đến 20 năm.
Ngoài nội dung trên quý khách hàng có thể tham khảo thêm bài viết có chủ đề tương tự tại địa chỉ sau: Hối lộ là gì? Khái niệm hối lộ được hiểu như thế nào?
Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi, mọi thắc mắc quý khách hàng xin vui lòng liên hệ số Hotline 1900.6162 hoặc địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp. Xin chân thành cảm ơn!