1. Dùng thủ đoạn gian dối là gì?
Dùng thủ đoạn gian dối được hiểu là việc đưa ra các thông tin giả, không đúng sự thật nhưng thuyết phục, làm cho người khác tin đó là sự thật và tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra các thông tin giả có thể bằng nhiều cách khá nhau như bằng lời nói hay chữ viết, bằng hành động để nhằm thuyết phục, lừa dối nạn nhân tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội.
Hiện nay thì các thủ đoạn gian dối của tội phạm rất tinh vi và thực hiện một cách rất xảo quyệt. Hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản là hành vi khách quan cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 174, Bộ Luật Hình sự năm 2015 . Theo đó, trong tội này, người phạm tội có hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho người có tài sản tin đó là sự thật nên đã tự nguyện giao tài sản cho người có hành vi gian dối.
2. Dùng thủ đoạn gian dối để giám đốc chuyển giao tài sản rồi lợi dụng sơ hở nhanh chóng tẩu thoát cấu thành tội gì?
Như chúng ta đã biết thì dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản là hành vi khách quan cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 174, Bộ Luật Hình sự năm 2015. Theo đó, trong tội này, người phạm tội có hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho người có tài sản tin đó là sự thật nên đã tự nguyện giao tài sản cho người có hành vi gian dối. Tuy nhiên thì hành vi gian dối nhưng có mục đích khác thì không thể cấu thành tội lừa đảo chiểm đoạt tài sản.
Vậy thì dùng thủ đoạn gian dối để giám đốc chuyển giao tài sản rồi lợi dụng sơ hở nhanh chóng tẩu thoát thì cấu thành tội gì? Hiện nay tội cướp giật tài sản được quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015 theo đó chỉ nói về tội danh cũng như mức xử lý của tội cướp giật tài sản, chứ không mô tả cụ thể thế nào là hành vi cướp giật tài sản. Căn cứ theo cấu thành tội danh thì tội cướp giật tài sản có thể được hiểu là hành vi công khai, giật lấy tài sản của người khác hoặc đang trong sự quản lý của người có trách nhiệm quản lý về tài sản rồi nhanh chóng tìm cách tẩu thoát.
Cướp giật tài sản là hành vi công khai, nhanh chóng giật lấy tài sản trong tay người khác hoặc đang trong sự quản lý của người có trách nhiệm về tài sản rồi tẩu thoát mà không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực hoặc bất cứ một thủ đoạn nào nhằm uy hiếp tinh thần của người quản lý tài sản. Vì vậy, có thể định nghĩa tội cướp giật tài sản như sau: Cướp giật tài sản là nhanh chóng giật lấy tài sản của người khác một cách công khai rồi tìm cách tẩu thoát.
Một đặc điểm nổi bật của cướp giật tài sản là người phạm tội lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản để nhanh chóng giật lấy tài sản mà người đó đang quản lý và nhanh chóng tìm cách tẩu thoát.
Và hành vi giật tài sản được thực hiện cách nhanh chóng đã tạo ra yếu tố bất ngờ làm cho những người bị cướp giật không có khả năng giữ và quản lý được tài sản của mình.
Phân tích cấu thành tôi cướp giật tài sản
Khách thể của tội phạm: Trong tội cướp giật tài sản khách thể trực tiếp bị xâm hại là quan hệ sở hữu về tài sản mà đối tượng tác động là những tài sản nhỏ, gọn, dễ mang đi do tính chất của hành vi là nhanh chóng chiếm đoạt tài sản. Khách thể của tội cướp giật tài sản cũng tương tự như tội cướp tài sản và tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tức là cùng một lúc xâm phạm đến hai khách thể (quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân), nhưng chủ yếu là quan hệ tài sản.
Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội cướp giật tài sản là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi nhất định thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Như vậy đối với cướp giật tài sản chủ thể của tội phạm trước hết bao gồm những người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự và những người từ đủ 14 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.
Mặt khách quan của tội cướp giật tài sản: Điều luật không mô tả hành vi khách quan của tội cướp giật tài sản, nhưng căn cứ vào khái niệm, vào các yếu tố cấu thành tội cướp giật tài sản thì người phạm tội cướp giật tài sản có những hành vi sau:
- Giật tài sản: tức là giằng mạnh lấy tài sản về mình một cách nhanh chóng ( ngay tức khắc). Hành vi giật tài sản một cách nhanh chóng đã tạo ra yếu tố bất ngờ đối với chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm về tài sản ( người đang quản lý tài sản ) làm cho những người này không có khả năng giữ được tài sản đang quản lý.
Hành vi giật tài sản của người phạm tội được thực hiện một cách công khai, tức là không có ý thức che giấu hành vi của mình đối với chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản và những người khác. Đây cũng là một đặc trưng để phân biệt với những trường hợp phạm tội khác như hành vi trộm cắp, lừa đảo chiếm đoạt tài sản không có tính công khai, trắng trợn. Để thực hiện hành vi giật tài sản, người phạm tội có thể sử dụng nhiều thủ đoạn khác nhau như: lợi dụng chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản không chú ý bất ngờ giật lấy tài sản, lợi dụng chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản đang bị vướng mắc hoặc đang điều khiển phương tiện giao thông để giật tài sản… Trong các thủ đoạn mà người phạm tội sử dụng, có những thủ đoạn nếu không xem xét một cách toàn diện sẽ dễ bị nhầm lẫn với các tội phạm khác gần kề như tội cướp tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc với cả tội trộm cắp tài sản.
Mặt chủ quan của tội phạm: Đối với tội cướp giật tài sản, mặt chủ quan của tội phạm gồm dấu hiệu lỗi, động cơ và mục đích phạm tội. Trong đó lỗi của người phạm tội cướp giật tài sản là lỗi cố ý trực tiếp. Động cơ của tội cướp giật tài sản được hiểu là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách cố ý. Mục đích của tội cướp giật tài sản là kết quả trong ý thức chủ quan mà người phạm tội đặt ra phải đạt được khi thực hiện hành vi phạm tội.
Bên cạnh đó thì theo án lệ số 57/2023/AL 1 về hành vi gian dối nhằm tiếp cận tài sản trong tội cướp giật tài sản thì hành vi sử dụng thủ đoạn gian dối để cướp giật tài sản và nhanh chóng tìm cách tẩu thoát là hành vi cấu thành tội cướp giật tài sản.
Như vậy thì căn cứ theo điều 171 Bộ luật Hình sự 2015 và án lệ số 57/2023/AL 1 thì dùng thủ đoạn gian dối để giám đốc chuyển giao tài sản và lợi dụng sơ sở để nhanh chóng tẩu thoát là cấu thành hành vi cướp giật tài sản.
3. Khung hình phạt đối tối tội cướp giật tài sản.
Tội cướp giật tài sản được quy định tại điều 171 Bộ luật Hình sự 2015. Theo đó thì tội cướp giật tài sản được quy định như sau:
Khung 1: Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Khung 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
- Có tổ chức;
- Có tính chất chuyên nghiệp;
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
- Dùng thủ đoạn nguy hiểm;
- Hành hung để tẩu thoát;
-Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;
- Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
- Tái phạm nguy hiểm.
Khung 3: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
- Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
Khung 4: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;
- Làm chết người;
- Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
Như vậy thì đối với hành vi cướp giật tài sản thì người phạm tội có thể bị phạt tiền lên đến 100.000.000 đồng và mức phạt tù cao nhất là tù chung thân. Tùy thuộc vào tính chất và mức độ của hành vi phạm tội mà người phạm tội có thể bị xử phạt ở những mức độ khác nhau.
Trên đây là toàn bộ những nội dung và thông tin mà chúng tôi muốn cung cấp cho các bạn có liên quan đến giải đáp câu hỏi dùng thủ đoạn gian dối để giám đốc chuyển giao tài sản rồi nhanh chóng tẩu thoát là cấu thành tội gi. Nếu các bạn còn có câu hỏi thắc mắc khác thì có thể liên hệ với chúng tôi thông qua số điện thoại của tổng đài tư vấn 19006162 hoặc liên hệ qua email lienhe@luatminhkhue.vn
Ngoài ra các bạn có thể tham khảo thêm một số bài viết sau:
Tội cướp giật tài sản theo luật hình sự ? Mức án tội cướp giật tài sản ?
Sự khác biệt của tội cướp giật tài sản và tội công nhiên chiếm đoạt tài sản mới nhất?
So sánh tội cướp giật tài sản với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản?