1. Em hãy cho biết những hành vi nào sau đây vi phạm quyền tác giả? Lớp 10

Em hãy cho biết những hành vi nào sau đây vi phạm quyền tác giả? Giải thích câu trả lời của em.

1) Tác giả A viết cuốn sách trong đó sử dụng một số bức ảnh do nhà nhiếp ảnh B chụp mà chưa xin phép nhà nhiếp ảnh B. Trong sách, những chỗ in các bức ảnh đều có ghi rõ tác giả là nhà nhiếp ảnh B. Cuốn sách được khai thác thương mại với giá 100 000 đồng/cuốn.

2) Nhà xuất bản C dịch và xuất bản một cuốn tiểu thuyết của tác giả nước ngoài với mục đích thương mại. Nhà xuất bản đã gửi email xin phép tác giả nhưng chưa nhận được thư trả lời.

3) Nhà xuất bản in lại một cuốn sách của hai tác giả A và B với mục đích thương mại. Nhà xuất bản đã được sự đồng ý của tác giả A nhưng chưa xin phép tác giả B.

4) Nhà xuất bản in một cuốn sách giáo khoa dưới dạng chữ nổi để phục vụ độc giả là người khiếm thị mà không trả tiền nhuận bút cho tác giả.

5) Trên trang web của một công ty du lịch có đăng bức ảnh chụp tháp Chàm của một nhà nhiếp ảnh, bức ảnh đã bị cắt bỏ phần chữ kí tác giả (watermark) so với ảnh gốc. Công ty chưa xin phép tác giả bức ảnh.

Trả lời: 

1. Hành vi này đã vi phạm quyền tác giả, điều được quy định rõ ràng tại khoản 8, Điều 28 của Luật Sở hữu Trí tuệ. Dù cuốn sách có ghi tên tác giả của bức ảnh, điều này không thay đổi tính chất trái phép của việc sử dụng bức ảnh đó vào mục đích thương mại mà không có sự đồng ý của tác giả.

2. Hành vi vi phạm quyền tác giả được nêu rõ tại khoản 7, Điều 28 của Luật Sở hữu trí tuệ. Trong trường hợp nhà xuất bản gửi email xin phép tác giả mà không nhận được sự đồng ý rõ ràng từ phía tác giả, điều này không có ý nghĩa pháp lý đúng đắn.

3. Hành vi này đích thực là vi phạm quyền tác giả, điều mà Luật Sở hữu Trí tuệ đã quy định rõ ràng tại khoản 4, Điều 28. Nhà xuất bản đã in và phát hành cuốn sách với mục đích thương mại mà không có sự đồng ý của đồng tác giả, điều này chính là hành động vi phạm trắng trợn quyền của tác giả.

4. Hành động này hoàn toàn hợp pháp theo quy định tại điểm (i), khoản 1 của Điều 25 trong Luật Sở hữu Trí tuệ số 50/2005/QH11 (đã được bổ sung và sửa đổi vào năm 2019).

5. Việc đăng bức ảnh của tác giả lên trang web nhằm mục đích quảng cáo thương mại mà chưa có sự xin phép của tác giả là một hành vi vi phạm quyền tác giả, điều này được quy định rõ ràng tại khoản 8 của Điều 28 trong Luật Sở hữu trí tuệ. Hơn nữa, việc cắt bỏ phần chữ kí của tác giả (watermark) trong bức ảnh mà không có sự đồng ý của tác giả là một hành vi vi phạm quyền tác giả theo quy định của cả khoản 12 và khoản 13 trong Điều 28 của Luật Sở hữu trí tuệ.

=> Theo quy định tại Điều 28 của Luật Sở hữu Trí tuệ, các hành vi xâm phạm quyền tác giả bao gồm:

- Chiếm đoạt quyền tác giả: Đây là hành vi lạm dụng, sử dụng, hoặc tái sử dụng một tác phẩm mà không có sự cho phép của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả.

- Mạo danh tác giả: Việc đưa ra thông tin sai lệch về tác giả, hoặc sự giả mạo danh tính tác giả.

- Công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép: Sử dụng, phân phối tác phẩm mà không có sự đồng ý của tác giả.

- Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm: Sửa đổi nội dung của tác phẩm mà không có sự cho phép của tác giả, dẫn đến mất mát hoặc thay đổi ý nghĩa của tác phẩm.

- Sao chép, sản xuất bản sao, phân phối, trưng bày tác phẩm mà không được phép: Hành vi sao chép, tái bản, hoặc phân phối tác phẩm mà không có sự cho phép của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả.

- Xuất bản tác phẩm mà không được phép: Hành vi xuất bản tác phẩm mà không có sự cho phép của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả.

- Cố ý xóa, thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm: Xóa hoặc thay đổi thông tin quản lý quyền tác giả trong tác phẩm mà không có sự cho phép.

- Sản xuất, lắp ráp, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị để làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật: Hành vi sản xuất, phân phối thiết bị để làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật mà chủ sở hữu quyền tác giả đã thực hiện để bảo vệ quyền tác giả của mình.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, sử dụng tác phẩm đã công bố không cần phải xin phép hoặc trả tiền nhuận bút, thù lao nếu thuộc các trường hợp quy định khác. 

 

2. Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có thể tự bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình

Theo quy định tại Điều 202 của Luật Sở hữu Trí tuệ năm 2005 về các biện pháp dân sự mà Tòa án có thể áp dụng để xử lý tổ chức hoặc cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp sau có thể được áp dụng:

- Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm: Tòa án có thể yêu cầu bên xâm phạm dừng ngay hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của người khác.

- Buộc xin lỗi, cải chính công khai: Bên xâm phạm có thể bị buộc phải xin lỗi và công khai cải chính hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ.

- Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự: Tòa án có thể buộc bên xâm phạm thực hiện các nghĩa vụ dân sự như bồi thường thiệt hại, hoặc thực hiện các hành động khác để khắc phục hậu quả của hành vi vi phạm.

- Buộc bồi thường thiệt hại: Bên xâm phạm có thể bị buộc phải bồi thường thiệt hại cho bên bị hại do hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ.

- Buộc tiêu hủy hoặc phân phối không nhằm mục đích thương mại: Tùy thuộc vào tình hình cụ thể, Tòa án có thể ra quyết định buộc bên xâm phạm tiêu hủy, phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại các hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất hoặc kinh doanh hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Tuy nhiên, quyết định áp dụng biện pháp nào sẽ phụ thuộc vào các chứng cứ và bằng chứng được cung cấp hoặc thu thập bởi Tòa án. Mục tiêu chính của Tòa án là đảm bảo tối đa quyền và lợi ích hợp pháp cho bên có quyền trong trường hợp vi phạm quyền sở hữu trí tuệ.

 

3. Biện pháp xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Theo quy định tại Điều 198 của Luật sở Hữu trí tuệ, các hành vi xâm phạm quyền tác giả sẽ được xử lý và giải quyết một cách công bằng và hiệu quả. Dưới đây là các biện pháp và quyền lợi được quy định cụ thể:

- Quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ:

+ Áp dụng biện pháp công nghệ để ngăn ngừa hành vi xâm phạm.

+ Yêu cầu bên xâm phạm chấm dứt hành vi, xin lỗi, cải chính công khai, và bồi thường thiệt hại.

+ Yêu cầu cơ quan nhà nước xử lý hành vi xâm phạm.

+ Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.

- Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân bị thiệt hại:

+ Có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

+ Có quyền yêu cầu áp dụng các biện pháp dân sự và hành chính đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

+ Nếu là bên đơn trong vụ kiện xâm phạm, nếu được Tòa án kết luận là không thực hiện hành vi xâm phạm, có quyền yêu cầu bên khác phải thanh toán các chi phí hợp lý.

+ Có quyền yêu cầu bồi thường nếu bị tổn thất do lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

- Biện pháp phòng ngừa việc lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ: Các tổ chức, cá nhân lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và gây thiệt hại cho bên khác sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường.

Tóm lại, việc quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của các bên trong vụ kiện xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ không chỉ tạo ra cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp mà còn khuyến khích việc tuân thủ pháp luật và đảm bảo sự công bằng trong xử lý các tranh chấp.

 

Quý khách xem thêm bài viết sau: 

- Vi phạm quyền tác giả là gì? Ví dụ hành vi xâm phạm quyền tác giả

- Xử lý vi phạm Quyền tác giả, Quyền liên quan như thế nào?