Quyền tác giả và quyền liên quan là những quyền quan trọng nhằm bảo vệ thành quả sáng tạo của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và tổ chức phát sóng. Trong bối cảnh môi trường số phát triển mạnh mẽ, các hành vi sao chép, sử dụng tác phẩm trái phép ngày càng diễn ra phổ biến và gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể quyền. Vì vậy, việc xử lý các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm môi trường sáng tạo lành mạnh và nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật về sở hữu trí tuệ. Vậy pháp luật hiện hành quy định việc xử lý vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan được thực hiện như thế nào?

1. Xác định hành vi vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan

1.1. Vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan là gì?

Vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan là hành vi xâm phạm đến các quyền hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả hoặc chủ thể quyền liên quan được pháp luật bảo hộ. Những hành vi này có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như sao chép, phân phối hoặc sử dụng tác phẩm trái phép. Việc xâm phạm không chỉ gây thiệt hại về kinh tế mà còn ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của chủ thể quyền. Trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh mẽ, các hành vi vi phạm ngày càng diễn ra phổ biến và khó kiểm soát hơn. Vì vậy, việc nhận diện đúng hành vi vi phạm có ý nghĩa quan trọng trong công tác bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Bên cạnh quyền tác giả, pháp luật còn bảo hộ quyền liên quan của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và tổ chức phát sóng. Mọi hành vi khai thác hoặc sử dụng các đối tượng này mà không được phép của chủ thể có quyền đều có thể bị xem là hành vi vi phạm. Các hành vi xâm phạm thường làm giảm giá trị thương mại của sản phẩm sáng tạo và ảnh hưởng đến môi trường sáng tạo lành mạnh. Do đó, pháp luật quy định nhiều biện pháp nhằm ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm quyền liên quan. Qua đó, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể quyền được bảo đảm và hoạt động sáng tạo được khuyến khích phát triển.

1.2. Hành vi vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan

Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019 và 2022), việc xác định hành vi vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan được thực hiện dựa trên các dấu hiệu pháp lý cụ thể tại Điều 28 (đối với quyền tác giả) và Điều 35 (đối với quyền liên quan). Về bản chất, một hành vi bị coi là vi phạm khi có đủ hai yếu tố:

(i) có hành vi khai thác, sử dụng tác phẩm hoặc đối tượng quyền liên quan;

(ii) việc sử dụng đó không được phép của chủ thể quyền, trừ trường hợp thuộc ngoại lệ hợp pháp.

Đối với quyền tác giả, Điều 28 quy định một loạt hành vi vi phạm điển hình như: chiếm đoạt quyền tác giả; mạo danh tác giả; công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép; sao chép tác phẩm dưới mọi hình thức (bao gồm cả sao chép số); làm tác phẩm phái sinh trái phép; truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua internet, mạng xã hội mà không được phép; cho thuê, nhập khẩu bản sao tác phẩm trái phép…. Trong môi trường số, các hành vi như đăng tải video, audio, livestream có sử dụng tác phẩm có bản quyền mà không xin phép hoặc không trả tiền nhuận bút, thù lao đều có thể bị coi là xâm phạm nếu không thuộc các trường hợp ngoại lệ tại Điều 25, 25a.

Đối với quyền liên quan (quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng), Điều 35 quy định các hành vi vi phạm như: sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố để kinh doanh mà không trả tiền; sao chép, phân phối, phát sóng hoặc truyền đạt cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình mà không được phép; dỡ bỏ hoặc thay đổi thông tin quản lý quyền; phá vỡ biện pháp kỹ thuật bảo vệ quyền…. Ví dụ, việc sử dụng beat nhạc, bản ghi âm gốc để cover và đăng tải nhằm mục đích thương mại nhưng không xin phép chủ sở hữu bản ghi cũng có thể đồng thời xâm phạm quyền liên quan.

2. Xử lý vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan như thế nào?

Hành vi vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan có thể bị xử lý bằng nhiều biện pháp pháp lý khác nhau, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm. Cụ thể gồm các nhóm biện pháp sau:

2.1. Biện pháp dân sự

Căn cứ Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2025, khi có hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan, Tòa án có thể áp dụng các biện pháp dân sự sau đây:

(1) Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm

Tòa án yêu cầu tổ chức, cá nhân vi phạm phải ngừng ngay hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan. Biện pháp này nhằm ngăn chặn thiệt hại tiếp tục phát sinh và bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền.

(2) Buộc xin lỗi, cải chính công khai

Người vi phạm có thể bị buộc phải xin lỗi và cải chính công khai đối với hành vi đã gây ảnh hưởng đến uy tín, danh dự hoặc quyền lợi của chủ thể quyền. Việc công khai này góp phần khắc phục hậu quả do hành vi xâm phạm gây ra.

(3) Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự

Tòa án có thể yêu cầu bên vi phạm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ dân sự theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận giữa các bên. Đây là cơ sở để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể bị xâm phạm.

(4) Buộc bồi thường thiệt hại

Tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan phải bồi thường những thiệt hại thực tế đã gây ra cho chủ thể quyền. Mức bồi thường được xác định trên cơ sở thiệt hại vật chất, tinh thần và các căn cứ theo quy định pháp luật.

(5) Buộc tiêu hủy hoặc xử lý hàng hóa, phương tiện vi phạm không nhằm mục đích thương mại

Tòa án có thể buộc tiêu hủy hoặc buộc phân phối, đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện chủ yếu dùng để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm. Việc xử lý này phải bảo đảm không ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.

(6) Buộc tiêu hủy hàng hóa giả mạo nhãn hiệu và hàng hóa sao chép lậu

Đối với hàng hóa giả mạo nhãn hiệu và hàng hóa sao chép lậu, Tòa án có thể áp dụng biện pháp tiêu hủy theo quy định của pháp luật. Đồng thời, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện dùng để sản xuất các hàng hóa này cũng có thể bị tiêu hủy hoặc xử lý không nhằm mục đích thương mại.

(7) Buộc gỡ bỏ, ẩn hoặc vô hiệu hóa quyền truy cập đối với nội dung vi phạm

Tòa án có thể yêu cầu gỡ bỏ, ẩn hoặc vô hiệu hóa quyền truy cập đến thông tin, nội dung, tài khoản, trang thông tin điện tử, ứng dụng hoặc các định danh địa chỉ Internet liên quan đến hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Biện pháp này đặc biệt có ý nghĩa trong môi trường số và trên không gian mạng.

2.2. Biện pháp hành chính

Căn cứn Điều 214 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Mức phạt và thẩm quyền xử phạt được thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành, một số mức xử phạt cụ thể như sau:

(1) Xử phạt hành vi xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm

Căn cứ Điều 8 Nghị định 341/2025/NĐ-CP, hành vi tự ý sửa đổi, cắt xén tác phẩm gây ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của tác giả bị phạt từ 20 đến 30 triệu đồng; hành vi xuyên tạc tác phẩm bị phạt từ 30 đến 40 triệu đồng. Ngoài ra, người vi phạm còn phải xin lỗi, cải chính thông tin và gỡ bỏ hoặc tiêu hủy yếu tố vi phạm.

(2) Xử phạt hành vi công bố tác phẩm không được phép

Theo Điều 9 Nghị định 341/2025/NĐ-CP, cá nhân, tổ chức công bố tác phẩm khi chưa được sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả bị phạt từ 10 đến 20 triệu đồng. Đồng thời, người vi phạm phải xin lỗi, cải chính thông tin và hoàn trả khoản lợi bất hợp pháp thu được nếu có.

(3) Xử phạt hành vi làm tác phẩm phái sinh trái phép

Căn cứ Điều 10 Nghị định 341/2025/NĐ-CP, việc làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả bị phạt từ 10 đến 20 triệu đồng. Trường hợp hành vi này còn xâm phạm quyền nhân thân của tác giả thì mức phạt tăng lên từ 20 đến 30 triệu đồng và phải gỡ bỏ hoặc tiêu hủy bản sao vi phạm.

(4) Xử phạt hành vi biểu diễn tác phẩm trước công chúng không được phép

Theo Điều 11 Nghị định 341/2025/NĐ-CP, hành vi biểu diễn gián tiếp tác phẩm thông qua bản ghi âm, ghi hình mà chưa được phép bị phạt từ 20 đến 30 triệu đồng. Nếu biểu diễn trực tiếp trước công chúng không được sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả thì mức phạt từ 30 đến 50 triệu đồng, đồng thời phải hoàn trả số lợi bất hợp pháp thu được.

(5) Xử phạt vi phạm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian

Căn cứ Điều 41 Nghị định 341/2025/NĐ-CP, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian không thực hiện trách nhiệm về quyền tác giả, quyền liên quan có thể bị phạt từ 10 triệu đồng đến 150 triệu đồng tùy tính chất vi phạm. Ngoài hình thức phạt tiền, doanh nghiệp còn bị buộc thực hiện các nghĩa vụ như cảnh báo người dùng, cung cấp thông tin, gỡ bỏ nội dung vi phạm hoặc báo cáo kết quả cho cơ quan có thẩm quyền.

(6) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với hàng hóa giả mạo quyền sở hữu trí tuệ

Khoản 2 Điều 214 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định ngoài các hình thức xử phạt hành chính thông thường, cơ quan có thẩm quyền còn có thể buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa giả mạo sở hữu trí tuệ. Việc áp dụng biện pháp này phải bảo đảm không ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và đáp ứng các điều kiện do Chính phủ quy định.

2.3. Truy cứu trách nhiệm hình sự

Căn cứ Điều 225 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với các khung hình phạt sau đây:

(1) Khung hình phạt cơ bản đối với cá nhân

Người không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan mà cố ý sao chép tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình hoặc phân phối các bản sao này đến công chúng, nếu thực hiện với quy mô thương mại hoặc đạt mức thu lợi, thiệt hại, giá trị hàng hóa vi phạm theo quy định của pháp luật, thì bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 300 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm. Đây là khung hình phạt áp dụng đối với trường hợp phạm tội thông thường.

(2) Khung hình phạt tăng nặng đối với cá nhân

Trường hợp phạm tội có tổ chức, thực hiện từ hai lần trở lên, thu lợi bất chính từ 300 triệu đồng trở lên, gây thiệt hại từ 500 triệu đồng trở lên hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 500 triệu đồng trở lên thì bị phạt tiền từ 300 triệu đồng đến 1 tỷ đồng hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Mức xử phạt này thể hiện sự nghiêm khắc hơn đối với các hành vi có tính chất và hậu quả nghiêm trọng.

(3) Hình phạt bổ sung đối với cá nhân

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung nhằm ngăn ngừa nguy cơ tái phạm. Theo đó, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 200 triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm.

(4) Khung hình phạt cơ bản đối với pháp nhân thương mại

Pháp nhân thương mại thực hiện hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan trong các trường hợp luật định sẽ bị phạt tiền từ 300 triệu đồng đến 1 tỷ đồng. Khung hình phạt này áp dụng đối với trường hợp vi phạm lần đầu hoặc chưa thuộc các tình tiết tăng nặng đặc biệt theo quy định của Bộ luật Hình sự.

(5) Khung hình phạt tăng nặng đối với pháp nhân thương mại

Khi pháp nhân thương mại phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 225 như phạm tội có tổ chức hoặc gây thiệt hại lớn, mức xử phạt sẽ được nâng lên. Theo đó, pháp nhân có thể bị phạt tiền từ 1 tỷ đồng đến 3 tỷ đồng hoặc bị đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm.

(6) Hình phạt bổ sung đối với pháp nhân thương mại

Bên cạnh hình phạt chính, pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng các biện pháp bổ sung nhằm hạn chế khả năng tiếp tục vi phạm. Cụ thể, pháp nhân có thể bị phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 300 triệu đồng, bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc bị cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

3. Các trường hợp không xâm phạm quyền tác giả

Căn cứ Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, pháp luật quy định nhiều trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố mà không bị coi là xâm phạm quyền tác giả, cụ thể:

  • Cá nhân được tự sao chép hoặc sao chép hợp lý một phần tác phẩm để nghiên cứu khoa học, học tập không nhằm mục đích thương mại.
  • Tác phẩm cũng có thể được sử dụng để minh họa trong giảng dạy, hoạt động công vụ của cơ quan nhà nước hoặc được trích dẫn hợp lý nhằm bình luận, giới thiệu và đưa tin.
  • Thư viện được phép sao chép, lưu trữ và liên thông tác phẩm phục vụ nghiên cứu, học tập theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, người sử dụng vẫn phải ghi rõ tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.

Bên cạnh đó, pháp luật còn cho phép sử dụng tác phẩm trong các hoạt động văn hóa, tuyên truyền, đưa tin thời sự và hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận tác phẩm. Việc biểu diễn nghệ thuật không nhằm mục đích thương mại, chụp ảnh tác phẩm trưng bày nơi công cộng hoặc nhập khẩu bản sao để sử dụng cá nhân đều thuộc trường hợp ngoại lệ. Tác phẩm xuất hiện trong các sự kiện thời sự cũng có thể được ghi âm, ghi hình và phát sóng nhằm mục đích cung cấp thông tin cho công chúng.

Theo khoản 2 Điều 25, việc sử dụng này không được mâu thuẫn với việc khai thác bình thường tác phẩm và không gây thiệt hại bất hợp lý đến quyền lợi của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Đồng thời, khoản 3 Điều 25 quy định ngoại lệ sao chép không áp dụng đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm mỹ thuật, chương trình máy tính và việc làm tuyển tập, hợp tuyển tác phẩm.

4. Kết luận

Như vậy, việc xử lý vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan được thực hiện thông qua nhiều cơ chế khác nhau nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền cũng như các chủ thể có quyền liên quan. Tùy theo tính chất, mức độ của hành vi xâm phạm, cá nhân, tổ chức vi phạm có thể bị áp dụng các biện pháp dân sự, hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, chủ thể quyền cũng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cần thiết để ngăn chặn, chấm dứt hành vi xâm phạm và bồi thường thiệt hại phát sinh. Việc xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm không chỉ góp phần bảo vệ thành quả lao động sáng tạo mà còn tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành văn hóa, nghệ thuật và công nghiệp sáng tạo. Do đó, việc nâng cao nhận thức và tuân thủ các quy định về quyền tác giả, quyền liên quan là yêu cầu cần thiết đối với mọi cá nhân, tổ chức trong quá trình khai thác và sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình hay chương trình phát sóng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.