- 1. Khái quát về Đạo phật
- 2. Khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về Phật giáo
- 3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giá trị tinh thần “từ bi, hỷ xả”, “vô ngã, vị tha” trong Phật giáo
- 4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giá trị tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, phẩm chất con người của Phật giáo
- 5. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy giá trị đoàn kết, khoan dung của Phật giáo
1. Khái quát về Đạo phật
Đạo Phật là một trong những học thuyết Triết học - tôn giáo lớn nhất trên thế giới, tồn tại rất lâu đời với hệ thống giáo lý đồ sộ và số lượng phật tử đông đảo được phân bố rộng khắp. Đạo Phật được truyền bá vào nước ta khoảng thế kỷ II sau công nguyên và đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của người Việt, bên cạnh đạo Nho, đạo Lão và đạo Thiên chúa.
Tuy nhiên, tùy ở từng giai đoạn lịch sử của dân tộc mà học thuyết tư tưởng, tôn giáo này hay học thuyết tư tưởng, tôn giáo khác nắm vai trò chủ đạo, có tác động mạnh đến nếp sống, thói quen, suy nghĩ của người Việt, như Phật giáo ở thế kỷ thứ X - XIV, Nho giáo thế kỷ thứ XV - XIX, học thuyết Mác - Lênin từ giữa thập kỷ 40 của thế kỷ XX. Cho đến nay, những học thuyết này không gi ữ địa vị độc tôn mà song song cùng tồn tại với các học thuyết, tôn giáo khác, tác động vào đời sống xã hội.
2. Khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về Phật giáo
Hồ Chí Minh là người con của xứ Nghệ, trưởng thành tại xứ Huế, ở một đất nước Phật giáo du nhập từ sớm và là thành tố cấu thành nên giá trị văn hóa Việt Nam. Bởi vậy Phật giáo có những đóng góp quan trọng trong việc hình thành nhân cách, đạo đức, lối sống của Người. Và chính Hồ Chí Minh nói rằng, từ trong chiều sâu lịch sử dân tộc, Phật giáo Việt Nam đã góp phần hình thành nên những giá trị tích cực, nhân bản. Những giá trị và chuẩn mực đạo đức, văn hóa, lối sống mà Phật giáo đã hội nhập vào cuộc sống và được duy trì cho tới ngày nay. Việc nghiên cứu Hồ Chí Minh với Phật giáo tuy đã có nhiều công trình nhưng chưa có công trình nào tập trung đi sâu vào chuyên đề tư tưởng Hồ Chí Minh về giá trị Phật giáo. Vì thế từ lý luận và thực tiễn đặt ra yêu cầu nghiên cứu vấn đề này đầy đủ và hệ thống như đã nói ở trên. Hơn nữa chúng ta còn thấy trong di thảo Hồ Chí Minh nhấn mạnh đó là tư tưởng về phát huy tinh thần từ bi, hỷ xả, vô ngã vị tha; tư tưởng về phát huy các giá trị đạo đức, nhân văn và tinh thần đoàn kết trong Phật giáo.
3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giá trị tinh thần “từ bi, hỷ xả”, “vô ngã, vị tha” trong Phật giáo
Xuất thân của Người ở miền Trung, sống trong một quốc gia có nhiều loại hình tôn giáo, tín ngưỡng đan xen, hòa quyện với nhau, nhưng vai trò Phật giáo dường như đứng ở vị trí nối kết dung thông, khoan hòa, khoan dung trong đời sống tâm linh. Điều này đã ảnh hưởng ít nhiều đến tư tưởng về giá trị của Phật giáo ở Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh sớm nhận thấy giá trị Phật giáo là một bộ phận cấu thành của văn hóa và là di sản của văn hóa của con người Việt Nam. Người lý giải rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như vì mục đích của cuộc sống loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [6, tr 431].
Hồ Chí Minh với sự tinh tế trong tâm hồn, sâu sắc trong trí tuệ, lịch lãm trong trải nghiệm đã sớm nhận ra những giá trị Phật giáo cấu thành văn hóa phong phú của dân tộc. Người cũng thấy được nỗi khổ của người dân mất nước, mất tự do về tín ngưỡng tôn giáo và quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân như là noi theo dấu chân đi tìm đường cứu khổ của Phật Thích ca Mâu ni.
Bởi vậy lúc Người còn sống và ngày nay trong tâm thức đông đảo người dân Việt Nam, Người là hiện thân cho đức Phật sống của đất nước, giống như tấm gương Phật tổ. Nhận thức được sự đau khổ nơi trần gian, mong muốn được giải thoát và cầu giải thoát, Đức Phật đã xuất gia tìm con đường giác ngộ và xuất gia tìm đạo. Người nói: “Ta không muốn sống trong cung vàng điện ngọc, Ta không muốn sống trong cảnh vương giả trị vì thiên hạ, hưởng cuộc đời sung sướng cao sang trên mồ hôi nước mắt của lê dân. Ta không muốn sống trong xã hội bất công mà Ta đã chứng kiến. Ta quyết định ra đi, dù phải xông pha trên gió bụi lao lung, Ta cố tìm ra mối đạo giải thoát cho nhân loại muôn loài” [11, tr 33].
Hồ Chí Minh nói rằng, giá trị lớn trong giáo lý đạo Phật là từ bi hỷ xả, vô ngã vị tha, cứu khổ cứu nạn. Đây là ước vọng muôn đời của nhân loại muốn nhổ tận gốc rễ của mọi khổ đau và giải thoát con người khỏi khổ đau trong cuộc sống, hướng con người tới cuộc sống an vui, tự tại. Phật tổ hướng mục đích của việc tu hành là sự “kết tinh bằng từ bi, trí tuệ, dũng mãnh, hướng dẫn chúng sinh đạt tới mục đích giác ngộ và giải thoát, chuyển cõi sa bà này thành cõi Tịnh độ và cuộc đời cơ cực này thành nếp sống cực lạc” [12, tr 318]. Trong hoàn cảnh Việt Nam khi đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhìn nhận vấn đề Phật giáo rất bình dị và thiêng liêng, gắn chặt với nhu cầu cuộc sống của con người nơi trần thế, Người viết: “Tôn chỉ mục đích của đạo Phật nhằm xây dựng cuộc đời thuần mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui và no ấm” [13, tr 39].
Trước nỗi đau mất nước, cả dân tộc đặt dưới ách đô hộ của chế độ thực dân phong kiến, chủ nghĩa đế quốc, Người đã quyết tâm ra đi tìm được cứu nước, mong cầu giải phóng dân tộc, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Tầm nhìn của người vượt xa qua không gian và thời gian đương thời. Ngày 5/1/1946, tại chùa Bà Đá, Người đã nói: “Trước Phật đài tôn nghiêm, trước quốc dân đồng bào có mặt tại đây, tôi xin thề hy sinh đem thân phấn đấu để giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc. Hy sinh, nếu cần đến hy sinh cả tính mạng, tôi cũng không từ” [14, tr12]. Noi theo tinh thần vô ngã vị tha Hồ chí Minh đã giành cả cuộc đời hy sinh, đấu tranh cho độc lập của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân và tình thương yêu con người vô bờ bến. Người nói: “Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên” [1, tr2]; điều này giống với tinh thần “vô ngã” của đạo Phật, không nghĩ đến bản thân mình, luôn quên mình vì mọi người.
Trải nghiệm nhiều nền văn hóa phong phú, thấu hiểu các tôn giáo phương Đông, phương Tây Hồ Chí Minh cho rằng, mục đích của tôn giáo nói chung cũng như Phật giáo nói riêng và mục đích của Hồ Chí Minh có thể nói là giống nhau, cùng mưu cầu sự hạnh phúc của con người. Người nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành" [8, tr161-162].
Cốt lõi của giáo lý đạo Phật khẳng định: “Nhân thị tối thắng” (con người cao hơn tất cả), còn với cốt lõi tư tưởng Hồ Chí Minh cho rằng: “Trong bầu trời không có gì tốt đẹp vẻ vang bằng phục vụ lợi ích cho nhân dân”, “việc gì có lợi cho nhân dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh” [14, tr 12]. Chẳng thế mà, trong cách mạng Việt Nam, khi trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Người luôn trăn trở suy tư sao cho ít đổ máu hy sinh nhất, kể cả ta và địch.
Để xảy ra cuộc chiến là điều bất đắc dĩ, còn một tia hi vọng vãn hồi hòa bình Người vẫn nỗ lực vận động thuyết phục đối phương. Trong việc khai thác những giá trị tích cực của tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng, Hồ Chí Minh đã nhận định: “Chúa Giê Su dạy: Đạo đức là bác ái, Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi, Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa” [8, tr225]. Người nhiều lần tuyên truyền giáo dục cho nhân dân, cán bộ Đảng viên phải tuyệt đối tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không theo tín ngưỡng, tôn giáo. Người không bao giờ mảy may tạo ra sự hiểu lầm và hiềm khích về tín ngưỡng, tôn giáo. Hồ Chí Minh còn chỉ rõ sự đồng thuận ở khát vọng cao cả của các tôn giáo là: “Mục tiêu cao cả của Phật Thích Ca và chúa Giê Su đều giống nhau: Thích Ca và Giê Su đều muốn mọi người có cơm ăn, áo mặc, bình đẳng, tự do và thế giới đại đồng”. Người còn chú trọng khai thác giá trị tấm gương, sự hy sinh cao cả của các vị sáng lập ra các tôn giáo để nêu gương trong giáo dục đồng bào các tôn giáo nói chung và đồng bào Phật tử nói riêng: “Đức Giê Su hy sinh vì muốn loài người tự do, hạnh phúc” [8, tr50] và Đức Phật phấn đấu suốt đời để: “Lợi lạc quần sinh, vô ngã vị tha” [8, tr50].
Hồ Chí Minh hiểu rõ tác dụng sức lan tỏa của các giá trị đạo đức cao cả, khoan dung trong các tín ngưỡng, tôn giáo đối với giáo dục nhân cách, nhất là tinh thần khoan dung Phật giáo nhằm xây dựng đạo đức cho đồng bào nói chung. Từ đó phát triển yêu cầu, nâng cao nêu gương đạo đức, giáo dục cho đội ngũ cán bộ cách mạng. Người đã kế thừa có bổ sung, phát triển nhiều khái niệm của Phật giáo như vô thường, vô ngã, từ bi,… rất nhiều khái niệm, phạm trù của đạo đức Công giáo như “kính chúa yêu người’’ “công bằng bác ái’’, đặc biệt là của Nho giáo như “trung”, “hiếu”, “nhân”,… Song, Người đổi mới căn bản về nội dung cho phù hợp với yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng. Trong đó, Người đã vượt qua được giới hạn của lịch sử, của thiên kiến, hạn chế lập trường giai cấp cứng nhắc hướng về giá trị đích thực đạo đức con người trong các tôn giáo để kế thừa, nâng cao đổi mới nhằm phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc và nhân loại.
Tuy nhiên, bên cạnh những giá trị mặt tích cực như nêu trên thì trong thực tiễn hoạt động tôn giáo còn không ít trường hợp có những thế lực lợi dụng, xuyên tạc tôn giáo để xảy ra hiện tượng phi nhân tính, phản văn hóa trong hoạt động tôn giáo. Hồ Chí Minh, một mặt trân trọng, kế thừa mặt tích cực của Phật giáo, dưới góc độ văn hóa. Mặt khác, Người cũng luôn luôn nhắc nhở, cảnh tỉnh cần chú ý phê phán, loại trừ những hiện tượng phản văn hóa trong các hoạt động Phật giáo, như bói toán, đồng cốt, mê tín dị đoan… Hồ Chí Minh đã nhìn thấy ở Phật giáo cái khát vọng tự do và hạnh phúc của quần chúng bị áp bức, đau khổ, thấy rõ tính nhân văn của Phật giáo chân chính là hướng tín đồ, hướng nhân loại tới các giá trị hòa bình, bình đẳng, bắc ái, khuyên con người làm điều thiện và loại trừ cái ác. Khi có điều kiện thực thi quyền lực của người đứng đầu nhà nước Người đã quyết tâm xây dựng và hoàn thiện thể chế nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của mọi công dân được thực thi trong thực tế, phát huy được những giá trị tốt đẹp trong các tôn giáo, bảo đảm ngăn ngừa có hiệu quả các thế lực phản động lợi dụng tôn giáo vào các mục tiêu ngoài tôn giáo. Bảo vệ các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần đích thực của các tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng. Đó chính là những nội dung tư tưởng về Phật giáo có giá trị thể hiện sự nhảy vọt mới về chất trong tiến trình lịch sử Việt Nam của Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta, hôm nay rất cần sự nhận thức và vận dụng, phát huy sáng tạo trong điều kiện mới.
4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giá trị tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, phẩm chất con người của Phật giáo
Từ rất sớm Hồ Chí Minh đã hiểu về giá trị quan điểm đạo đức đạo Phật, Tứ diệu đế chính là một trong những tuệ giác sáng chói nhất của Đức Phật. Ngài đã tìm ra sự thật nỗi khổ của cuộc đời là bệnh, già, chết và sự phiền não do vô minh luôn thường trực trong mỗi người, gọi đời là Khổ (Khổ đế); nguyên nhân của đau khổ là do chuỗi nhân quả được khởi lên và xoắn xuýt trùng điệp Khổ tập (Tập đế), và để dứt trừ nguyên nhân đau khổ cần thực hành theo bát chánh đạo các pháp môn tu tập, nhằm đạt tới giải thoát gọi là Khổ tập diệt (Diệt đế); cuối cùng và quan trọng nhất, con người trở thành đắc đạo là con đường đi tới hạnh phúc, an vui vĩnh cửu, là Khổ tập diệt đạo (Đạo đế).
Hồ Chí Minh thời tuổi trẻ sớm hiểu giá trị của các quy phạm đạo đức của Phật giáo, như “ngũ giới”, “Thập thiện”, trong đó, các giới cấm trong ngũ giới là không sát sinh, không trộm cắp, không nói dối, không tà dâm, không được uống rượu có thể dùng để xây dựng nhân cách lý tưởng của con người. Để giải thoát con người khỏi đau khổ, đem lại an vui cho mọi người. Đức Phật dạy người tu hành phải chống “tam độc” mà gốc của nó chính là do “vô minh”. Để làm được điều đó, người tu hành phải giác ngộ, dùng ý thức, trí tuệ của mình để diệt trừ “tham, sân, si’’. Hồ Chí Minh rất chú trọng giáo dục đồng bào và các cán bộ, đảng viên phải thực hành việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức một cách tự giác để có thể nhân lên sức mạnh nội lực cho cách mạng thắng lợi.
Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định giá trị nội tỉnh tự giác giác tha trong đạo đức Phật giáo thể hiện ở mục tiêu thiêng liêng là đưa lại hạnh phúc và an lạc cho chúng sinh. Nguyên tắc chung của Phật giáo là dạy cho chúng sinh tự lực phấn đấu, đề cao long từ bi, vô ngã, vị tha, làm điều thiện, tránh điều ác. Phật giáo luôn khuyến khích chúng sinh “tự độ độ tha, tự giác giác tha”. Trong Thư gửi Đại hội lần thứ III Hội Phật giáo Thống nhất Việt nam ngày 28/9/1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tôi mong rằng đồng bào Phật giáo hãy thực hiện lời Phật dạy “lợi lạc quần sinh, vô ngã, vị tha, là tất cả vì lợi ích mọi người, không cá nhân chủ nghĩa”.
Hồ Chí Minh nhận thức về các lý tưởng tự do bình đẳng trong Phật giáo. Khát vọng về công bằng xã hội, về con đường giải thoát và tự tại nơi trần thế, Đức Phật đã nêu lên như một quy luật, cô đọng lại trong lời dạy nổi tiếng và mang tính “vượt thời gian” [15]: “Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ, không có đẳng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn. Mỗi người khi mới sanh không phải có sẵn dấu tin-ca (tilca) trên trán, không đeo sẵn dây chuyền trong cổ” [4, tr92-93].
Người luôn nhận rõ những giá trị tốt đẹp của Phật giáo, có thái độ gần gũi và sự gặp gỡ giữa tư tưởng Phật giáo với tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề đạo đức, vấn đề giải phóng con người. Do đó, Hồ Chí Minh bao giờ cũng nhìn nhận giá trị Phật giáo với một thái độ trân trọng và quý mến: “Nền tảng và truyền thống của triết học Ấn Độ là lý tưởng hòa bình bác ái. Liên tiếp trong nhiều thế kỷ, tư tưởng của Phật giáo, nghệ thuật khoa học Ấn Độ đã lan khắp thế giới” [7, tr201]. Bởi thế cựu bộ trưởng Bộ Văn hóa Cù Huy Cận đã có nhận xét: “Khi bình sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn có một tấm lòng kính mộ sâu sắc và cảm động đối với Đức Phật Thích Ca – người sáng lập ra đạo Phật, cũng như đối với tất cả các vị sáng lập những tôn giáo lớn. Người đã cảm nhận ở các vị giáo chủ này trước hết là lòng thương cảm sâu sắc đối với số phận của những chúng sinh và ý muốn thiết tha làm sao giảm nhẹ hoặc xóa bỏ những nỗi đau khổ của con người trên trái đất”.
Trong giáo lý nhà Phật, Đức Phật dạy các đệ tử: “Này các Tỳ kheo! Hãy tu hành vì hạnh phúc cho quần chúng, vì an lạc cho quần chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc và an lạc cho chư Thiên và loài người” (Tương Ưng Bộ kinh); “Này các Tỳ kheo! Xưa và nay Ta chỉ nói lên sự khổ và diệt khổ” (Trung Bộ kinh). Hồ Chí Minh kế thừa và nâng cao giá trị đó luôn có cái tâm từ bi, hướng thiện, luôn đau đáu về nỗi đau của nhân dân, của dân tộc mình và cuả nhân loại. Xuất phát từ cái tâm cao thượng như trong đạo Phật, Người luôn hành động sáng tạo quên mình vì đất nước, vì Tổ quốc, vì hạnh phúc, ấm no của nhân dân. Bên cạnh đó, với lập trường Mác xít Người cũng chú trọng tiếp thu tinh hoa văn hóa truyền thống dân tộc và của nhân loại đạt đến “đức hiếu sinh”, không chỉ xây dựng cơ sở pháp lý và thể chế để hiện thực hóa cái đúng, cái thiện, cái đẹp ngăn chặn việc ác mà còn “làm cho phần thiện trong mỗi con người nảy nở” [10, tr558].
Hồ Chí Minh đã nhận thức được giá trị của tăng ni trong việc thực hiện và lan tỏa các giá trị đạo đức, tu dưỡng nên nhân cách con người Việt Nam. Khi nói chuyện với Tăng Ni, tín đồ Phật tử ở đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị: “Tôi mong các Hòa thượng, Tăng Ni và Phật tử hãy tích cực thực hiện tinh thần Từ bi, Vô ngã, Vị tha trong sự nghiệp cứu nước, giữ nước và giữ đạo để cùng toàn dân sống trong Độc lập, Tự do, Hạnh phúc” [12, tr321-322]. Hồ Chí Minh còn khẳng định, đạo đức là gốc của người cách mạng, do đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn nêu gương hy sinh quyền lợi cá nhân vì tập thể, dân tộc, trong rèn luyện, tu dưỡng đạo đức theo các tiêu chí: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, yêu thương đồng bào, đồng chí với tinh thần vô ngã, vị tha ,…
Chữ “chính” trong giáo lý nhà Phật luôn được nhấn mạnh trong suốt quá trình tu hành, đức “chính” toàn diện từ tư duy đến hành động, từ lời nói đến việc làm, nhằm hướng thiện, loại bỏ cái tà, cái ác… Hiểu rõ điều đó Hồ Chí Minh nói: “Đức Phật dạy tín đồ, con người thông hiểu, tu hành từ muôn vàn giáo lý, đặng kết đọng hướng tới sống theo đức hạnh cao nhất: “Hãy gấp làm điều thiện, ngăn tâm làm điều ác” và khẳng định: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” là chuẩn mực đạo đức cao quý của con người.
Như vậy, Hồ Chí Minh thấy được giá trị cuả các chuẩn mực đạo đức,vai trò quan trọng cuả lối sống đạo hạnh Phật giáo, có sức ảnh hưởng rộng rãi trong xã hội của các tăng ni, giá trị đạo đức và lối sống tốt đẹp đó Người đã tự nêu lên và thực hành làm gương. Người đã kế thừa và nâng cao lấy đó bổ sung, định hướng xây dựng nền đạo đức mới cách mạng cho Việt Nam.
5. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy giá trị đoàn kết, khoan dung của Phật giáo
Hồ Chí Minh từ rất sớm đã nhận ra giá trị khoan dung hòa hợp trong văn hóa Việt nam và trong giáo lý nhà Phật. Trong kinh Trung bộ III có nhiều chỗ chép lời Đức Phật dạy về tư tưởng lục hoà, đó là 6 nguyên tắc sống hoà hợp, đoàn kết trong tình thân thương của cộng đồng những người đệ tử của đức Phật là tại gia cũng như xuất gia. Đối với lối sống Phật giáo, bên trong luôn lấy tinh thầntừ bi, trí huệ, giải thoát, hòa hợp làm cơ sở, bên ngoài lấy tinh thần nhẫn nhịn, đoàn kết, phụng sự tha nhân sự góp phần xây dựng xã hội bằng những hình thức hoằng pháp, từ thiện, xây dựng nhân tâm làm mục tiêu hoạt động. Qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử nhất là từ khi thành lập tổ chức thống nhất Giáo hội Phật giáo Việt Nam, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh với phương châm “đoàn kết, hòa hợp, trưởng dưỡng đạo tâm, trang nghiêm giáo hội; hoằng pháp, lợi sanh, thực hiện phương châm đạo pháp dân tộc” đã góp phần khẳng định giá trị đoàn kết, hòa hợp của Phật giáo Việt Nam.
Trong thư gửi đồng bào Phật tử năm 1957, Hồ Chí Minh khẳng định tôn chỉ của đạo Phật là nhằm xây dựng một cuộc sống bình đẳng, no ấm và yên vui. Người cũng khen ngợi về những đóng góp của đồng bào Phật tử cho cuộc kháng chiến đồng thời kêu gọi tăng, ni, Phật tử đoàn kết, góp phần xây dựng hòa bình, ngăn chặn âm mưu của kẻ thù lợi dụng vấn đề tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân. Hồ Chí Minh viết: “Tôi có lời khen ngợi các vị tăng, ni và tín đồ đã sẵn lòng nồng nàn yêu nước, hăng hái làm tròn nghĩa vụ của người công dân và xứng đáng là Phật tử... Trong cải cách ruộng đất, tuy có nơi đã vi phạm sai lầm trong việc thực hiện chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, nhưng Đảng và Chính phủ đã có chính sách kiên quyết sữa chữa. Hiện nay... đời sống nhân dân dần dần càng được cải thiện, cũng giống như tôn chỉ mục đích của đạo Phật nhằm xây dựng cuộc đời thuần mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui no ấm... Tôi mong các vị tăng, ni và đồng bào tín đồ đã đoàn kết thì càng đoàn kết hơn để góp phần xây dựng hòa bình chóng thắng lợi. Hãy ra sức giúp đỡ cán bộ, hăng hái thực hiện mọi công tác của Chính phủ, chấp hành đúng chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, ngăn chặn âm mưu của Mỹ - Diệm và bọn tay sai lợi dụng tôn giáo hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, hãy ra sức đấu tranh giành thống nhất đất nước” [9, tr290-291].
Khi đất nước bị chia cắt làm hai miền, chính quyền chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện chính sách kỳ thị tôn giáo, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi Tăng Ni, Phật tử: “Hãy ra sức giúp đỡ cán bộ, hăng hái thực hiện mọi công tác của Chính phủ, chấp hành đúng chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, ngăn chặn âm mưu của Mỹ – Diệm và bọn tay sai chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, hãy ra sức đấu tranh giành thống nhất đất nước” [8, tr39]. Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh cũng đánh giá cao những đóng góp, hy sinh của tăng ni, tín đồ Phật giáo trong hai cuộc kháng chiến cứu nước. Trong thư gửi Đại hội 3, Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam, Người đã viết: “Các vị Tăng Ni, tín đồ Phật giáo trước đây có công với kháng chiến, nay thì đang góp sức cùng toàn dân xây dựng miền Bắc giàu mạnh và đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà” [8, tr39].
Khi ở cương vị lãnh đạo, Hồ Chủ tịch luôn quan tâm tới nhu cầu chính đáng của mọi người nhất là đồng bào tôn giáo, các Phật tử; Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải làm sao cho đồng bào có đạo được phần xác ấm no, phần hồn thong dong. Thực tiễn trong cách mạng Việt Nam đã chứng minh, bất cứ ở đâu và khi nào mà những người lãnh đạo có trách nhiệm quán triệt theo tư tưởng Hồ Chí Minh quan tâm giải quyết thỏa đáng hai nhu cầu vật chất và tinh thần thì đồng bào tôn giáo nói chung, đồng bào Phật giáo nói riêng sẽ an tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, sẽ sống và hành đạo đúng đắn. Các tín đồ và chức sắc, các tăng ni Phật tử trước hết là những công dân; họ có quyền lợi và nghĩa vụ như những công dân khác, họ mong muốn được sống “tốt đời, đẹp đạo”, “yêu nước” theo Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã nêu: “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”.
Bài viết tham khảo: Tư tưởng Hồ Chí Minh về giá trị phật giáo; PGS. TS Đỗ Thị Hòa Hới - Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN và ThS. Vũ Mạnh Hùng - Học viện An ninh nhân dân, Bộ Công an.