Bát quan trai giới là gì? Tìm hiểu chi tiết về ý nghĩa, 8 giới cần giữ và cách tính ngày thọ bát quan trai giới chính xác tại nhà. Bài viết của Luật Minh Khuê giúp bạn hiểu rõ về nghi thức thực hành tôn giáo này để tu tập đúng cách, mang lại sự an lạc trong tâm hồn. Nhấn vào đây để xem hướng dẫn đầy đủ và các lưu ý quan trọng dành cho Phật tử tại gia khi phát nguyện thọ giới.
Người sáng lập ra đạo Phật là Thái tử Tất Đạt Đa (Shidartha) sinh năm 624 trước công nguyên thuộc dòng họ Thích Ca (Sakyà), con vua Tịnh Phạn Vương Đầu Đà Na (Sudhodana) trị vì nước Ca Tỳ La Vệ (Kapilavasu) xứ Trung Ấn Độ lúc đó và hoàng hậu Ma Da (Maya)
Nhân sinh quan là một khái niệm thuộc phạm trù triết học, có rất nhiều quan điểm, trường phái khái nhau giải thích về khái niệm nhân sinh quan. Trong phạm vi bài viết này, tôi sẽ đề cập đến khái niệm nhân sinh quan và quan niệm về nhân sinh trong triết học phật giáo.
Tìm hiểu chi tiết nội dung 8 giới trong đạo Phật (Bát quan trai giới) và ý nghĩa sâu sắc của việc thọ trì giới luật này. Bài viết cung cấp hướng dẫn đầy đủ về cách giữ 8 giới, giúp người Phật tử rèn luyện đạo đức, tâm tính và đạt được sự an lạc trong cuộc sống. Cùng Luật Minh Khuê khám phá các quy tắc chuẩn mực của nhà Phật để ứng dụng vào thực tiễn tu tập ngay hôm nay.
Hôm nay chúng ta nói phần thứ hai của con đường tâm linh. Phần thứ nhất chúng ta đã xét đến Tam quy. Tiếp theo người Phật tử phải giữ giới. Khi một người Quy y Phật, Pháp, Tăng, người nam trở thành Cận Sự Nam (upāsaka), người nữ trở thành cận sự nữ (upāsika).
Diệt Đế là gì? Là sự diệt khổ Là sự tẩy sạch và sự diệt trừ dục vọng; sự bác bỏ, buông xả, từ bỏ và không thừa nhận nó. Nhưng trên căn bản nào dục vọng này được bỏ mặc và làm cho triệt tiêu? Nó có thể được bỏ mặc và làm cho triệt tiêu ngay nơi nào có sự vừa lòng và yêu thích.
Đạo Đế là gì? Là Con Đường Đẫn Tới Sự Diệt Khổ, là Bát Chánh Đạo, đó là: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm và Chánh Định Đạo Đế dạy về Con Đường Đẫn Tới Sự Diệt Khổ:
Rải rác trong Trung bộ kinh, Đức Phật và tôn giả Sāriputta thuyết về chánh tri kiến, nội dung khá dài nhưng ta có thể tóm tắt cô đọng như sau: Thấy rõ (tuệ tri) thiện và bất thiện...; Thấy rõ căn gốc của thiện và căn gốc của bất thiện;
Ngã mạn là một thuật ngữ được sử dụng trong đạo phật. Ngã mạn là luôn coi trọng bản ngã của mình lên trên hết, mọi người không bằng mình, mình là trung tâm của vũ trụ, tốt đẹp hơn người. Bài viết giới thiệu quan niệm về ngã mạn theo Đạo Phật Nguyên Thủy và các bài giảng phật pháp ứng dụng hiện nay:
"Tác ý là Nghiệp" Tăng Nhứt A Hàm. Kamma, Nghiệp, theo đúng nghĩa của danh từ, là hành động, hay việc làm. Định nghĩa cùng tột của Nghiệp là Tác ý (cetana). Tư tưởng, lời nói, việc làm, thường khởi xuất do "ý muốn làm" tạo động cơ.
Lòng tri ân là một đức tính quý báu, là một tình cảm đáng trân trọng giữa cuộc đời này. Trên thế gian, những người hiểu biết, những người có trái tim nhân hậu; những người biết quý trọng đạo đức, có tâm đạo nhiệt thành, có tâm hồn cao cả, hướng thiện và hướng thượng;
Chấp ngã (ngã chấp) là một thuật ngữ trong Đạo Phật. Đây là một khái niệm khá khó hiểu với nhiều người không hiểu sâu về Đạo Phật. Do vậy, Bài viết đăng tải lại nội dung khái niệm chấp ngã theo Kinh ÁI – Tăng II, 225 kèm theo những bài thuyết pháp để chúng ta hiểu thêm về khái niệm này:
Tuỳ theo sức mạnh của nghiệp và cơ hội trả quả; nghiệp có những thời gian trả quả khác nhau. Nói cách khác, khi nhân duyên đủ thì quả thành, nhân duyên chưa đủ thì quả chưa thành. Chính do vậy mà có người làm ác lại sống giàu sang, sung sướng; người hiền lương, tốt, chân thật lại sống trong Tứng thiếu, nghèo khổ. Điều tưởng như nghịch lý trên, thật ra là do thời gian trả quả nhanh, chậm khác nhau mà thôi.
Theo tiếng Pali, từ Nghiệp (kamma), (tiếng Phạn: karma), có nghĩa gốc là hành động hay sự làm, việc làm. Nhưng Nghiệp ở đây là chỉ những hành động cố ý, hành động có ý chí, bao gồm ý nghĩ (tâm), lời nói (miệng) và việc làm (thân).
Chánh ngữ là lời nói chân chánh, không tạo nghiệp bất thiện bằng lời nói, mà trái lại, dùng lời nói để tạo các nghiệp thiện lành. Trong Bát chi Thánh đạo, Chánh Ngữ là chi thứ ba, và được định nghĩa như sau, như đã ghi trong Tương ưng bộ:
Các bạn đã được học về Đức Phật, một số những lời dạy quan trọng của Ngài. Các bạn cũng đã được học một số đặc tính đặc biệt đáng quý của Đức Phật. Hôm nay chúng ta sẽ học làm thế nào để đi trên con đường phát triển tâm linh do Đức Phật đã tìm ra.
Hồ Chí Minh là người con của xứ Nghệ, trưởng thành tại xứ Huế, ở một đất nước Phật giáo du nhập từ sớm và là thành tố cấu thành nên giá trị văn hóa Việt Nam. Bởi vậy Phật giáo có những đóng góp quan trọng trong việc hình thành nhân cách, đạo đức, lối sống của Người.
Đức tánh thứ nhì giúp con người trở nên cao thượng là tâm Bi. Bi là động lực làm cho tâm rung động trước sự đau khổ của kẻ khác, là cái gì thoa dịu niềm khổ đau sầu não của người. Đặc tánh của tâm Bi là ý muốn giúp người khác thoát khỏi một cảnh khổ.
Ājīva là sự nuôi mạng sống, sự sanh sống. Chánh mạng là nuôi mạng sống một cách chơn chánh, là lìa xa những nghề nghiệp có phương hại đến mình và người khác, chúng sanh khác. Người Phật tử tu tập theo con đường Bát chánh, sau khi có kiến, tư duy, ngữ, nghiệp trong sạch rồi,
Ba đặc tính phổ quát của cuộc sống là một phần quan trọng trong giáo lý của Đức Phật. Giống như Tứ Diệu Đế, Nghiệp, Lý Nhân Duyên, Năm Uẩn, Ba Đặc Tính là một phần của cái mà chúng ta gọi là nội dung học thuyết của trí tuệ.