1. Khái niệm Giá trị Delta là gì?

Giá trị Delta là một thuật ngữ phân tích kỹ thuật, được sử dụng để đo lường tương tác giữa giá quyền chọn và giá bán chứng khoán cơ bản hoặc hợp đồng kỳ hạn. Một quyền chọn thay đổi phí bằng $1 cho mỗi $2 thay đổi trong giá chứng khoán cơ sở có giá trị delta 0.05. Quyền chọn hòa vốn (at the money) gần 0.05. Giá trị delta tăng về 1.0 đối với quyền lựa chọn có lời và đạt zero với quyền chọn không có lời. So sánh với gamma, là độ nhạy của giá trị delta quyền chọn đối với những thay đổi nhỏ trong giá của công cụ cơ sở. Delta là một tỉ số so sánh sự thay đổi giá của một tài sản, thường là chứng khoán được bán trên thị trường, với sự thay đổi của giá trị quyền chọn tương ứng với sự thay đổi của giá trị tài sản cơ sở.

Ý nghĩa của Delta: Giá trị delta có thể dương hay âm tùy thuộc vào loại tùy chọn. Ví dụ: Delta cho quyền chọn mua luôn nằm trong khoảng từ 0 đến 1 vì khi tài sản cơ bản tăng giá, quyền chọn mua sẽ tăng giá. Các delta quyền chọn bán luôn nằm trong khoảng từ -1 đến 0 vì khi bảo mật cơ bản tăng lên, giá trị của quyền chọn bán sẽ giảm.

2. Nội dung về Giá trị Delta 

2.1 Nội dung

Giá trị của Delta có thể dương hoặc âm tùy thuộc vào loại quyền chọn. Ví dụ Delta sẽ là một số giữa 0.0 và 1.0 với bên bán quyền chọn mua (và bên mua quyền chọn bán) và 0.0 và -1.0 với bên bán quyền chọn bán (và bên mua quyền chọn mua).

Tùy thuộc vào giá trị tài sản cơ sở, giá trị quyền chọn mua có thể thay đổi như cổ phiếu cơ sở (trong trường hợp giá thực hiện thấp hơn nhiều so với giá trị thị trường) hoặc hoàn toàn không đổi (trong trường hợp giá thực hiện cao hơn nhiều so với giá thị trường) hoặc ở mức giữa. Điều này ngược lại với một quyền chọn bán. Chênh lệch giữa Delta của quyền chonh mua và Delta của quyền lựa chọn bán có cùng giá thực hiện gần bằng nhưng không bằng 1 mà bằng nghịch đảo của hệ số chiết khấu. Theo nguyên tắc cân bằng mua bán, mua quyền chọn mua và bán quyền chọn bán tương đương với việc mua sản phẩm tương lại F, thường có sự biến động song song với giá tài sản cơ sở hiện tại S, với hệ số bằng nghịch đảo của hệ số chiết khấy là dF/dS. Những con số này thường được trình bày dưới dạng phần trăm của tổng số cổ phần tương đương với các hợp đồng quyền chọn, bởi các hợp đồng quyền chọn sẽ ngay lập tức có giá trị giống như số lượng cổ phiếu được thể hiện bởi Delta.

2.2 Ví dụ về Giá trị Delta

* Ví dụ 1: 

Giả sử có một công ty giao dịch công khai tên là BigCorp. Cổ phiếu của công ty được mua và bán trên một sàn giao dịch chứng khoán, có các quyền chọn bán và quyền chọn mua được giao dịch cho những cổ phiếu đó. Đồng bằng cho quyền chọn mua trên cổ phiếu BigCorp là 0,35. Điều đó có nghĩa là 1 đô la thay đổi trong giá của cổ phiếu BigCorp tạo ra thay đổi 0,35 đô la trong giá của quyền chọn mua BigCorp. Do đó, nếu cổ phiếu của BigCorp giao dịch ở mức 20 đô la và quyền chọn mua giao dịch ở mức 2 đô la, thay đổi giá cổ phiếu của BigCorp lên 21 đô la có nghĩa là quyền chọn mua sẽ tăng lên mức giá là 2,35 đô la.

Đặt các tùy chọn hoạt động theo cách ngược lại. Nếu quyền chọn bán đối với cổ phiếu BigCorp có mức bằng – 0,65 đô la, thì giá cổ phiếu BigCorp tăng 1 đô la tạo ra giá quyền chọn bán của BigCorp giảm 65 đô la. Vì vậy, nếu cổ phiếu của BigCorp giao dịch ở mức 20 đô la và quyền chọn bán giao dịch ở mức 2 đô la, thì cổ phiếu của BigCorp tăng lên 21 đô la và quyền chọn bán sẽ giảm xuống mức giá là 1,35 đô la.

* Ví dụ 2:

Nếu trong danh mục 100 quyền chọn mua cổ phiếu ABC mỗi quyền có Delta 0.25(=25%) thì danh mục sẽ tăng hoặc mất giá trị giống như 2.500 cổ phiếu ABC khi giá cổ phiếu biến động nhỏ (100 hợp đồng quyền chọn tương đương với 10.000 cổ phiếu). Dấu và tỉ lệ phần trăm thường bị loại bỏ - dấu được hiểu ngầm theo loại quyền chọn (âm cho quyền chọn bán, dương cho quyền chọn mua) và tỉ lệ phần trăm được hiểu ngầm. Các quote (báo giá) phổ biến nhất là 25 Delta quyền chọn bán, 50 Delta quyền chọn bán/ 50 Delta quyền chọn mua và 25 Delta quyền chọn mua. 

50 Delta quyền chọn mua và 50 Delta quyền chọn bán không hoàn toàn giống nhau, do giá hiện tại và giá hợp đồng tương lai khác nhau bởi hệ số chiết khấu, nhưng chúng thường tịnh tiến.

Delta luôn dương với quyền chọn mua và luôn âm với quyền chọn bán (trừ khi Delta bằng 0). Delta tổng của một danh mục đầu tư với nhiều quyền chọn mua/bán trên cùng một tài sản cơ sở được tính đơn giản bằng tổng Delta của mỗi quyền chọn mua/bán - Delta của danh mục đầu tư bằng tổng của các Delta thành phần. 

Do Delta của tài sản cơ sở luôn bằng 1, nhà đầu tư có thể bảo hiểm toàn bộ danh mục của mình bằng việc mua hoặc mượn số cổ phiếu bằng đúng số thể hiện bởi Delta. Ví dụ, nếu Delta của danh mục quyền với cổ phiếu ABC (thể hiện theo số cổ phiếu tài sản cơ sở) là +2,75, nhà đầu tư có thể bảo hiểm biến động giá của danh mục bằng cách mượn 2,75 cổ phần ABC.

Danh mục đầu tư này sẽ giữ nguyên giá bất kể giá cổ phần ABC biến động theo hướng nào (mặc dù chỉ cho các biến động nhỏ về giá, cho một khoảng thời gian ngắn và không tính tới các thay đổi khác về thị trường như mức độ biến động và lãi suất phi rủi ro).

3. Mức suy giảm Delta

3.1 Khái niệm mức suy giảm Delta 

Mức suy giảm Delta hay còn gọi là Charm được hiểu cơ bản là tốc độ thay đổi tức thù của một quyền chọn hay một chứng quyền theo thời gian. Mức suy giảm Delta cũng chính là đạo hàm bậc hai của giá trị của quyền chọn, một lần đạo hàm là theo thời gian và một lần là theo Delta. Nó cũng là đạo hàm của theta, được sử dụng nhằm để có thể đo lường sự hao mòn thời gian của giá trị quyền chọn. Theta (hao mòn thời gian) được hiểu là thức đo tỉ lệ suy giảm giá trị của hợp đồng quyền chọn theo thời gian. Theta tăng lên nhanh chóng khi ngày đáo hạn của quyền chọn đến gần bởi vì càng có ít thời gian được sử dụng để nhằm mục đích thu lợi nhuận từ giao dịch nhiều hơn.

3.2 Cách thức hoạt động của mức suy giảm Delta 

Mức suy giảm Delta sẽ cho biết giá trị Delta của quyền chonh thay đổi bao nhiêu mỗi ngày cho đến khi quyền chọn đến ngày đáo hạn. Delta của quyền chọn là sự thay đổi về giá trị (phí quyền chọn) do sự thay đổ giá của tài sản cơ bản. chính bởi vì thế, một quyền chọn có Delta là + 50 sẽ thu được 50 xu giá trị cho mỗi đô la mà giá của tài sản cơ bản tăng lên. Tuy nhiên giá trị Delta không tĩnh. Chẳng hạn, Gamma đo lường sự thay đổi Delta của một quyền chọn khi giá cơ bản thay đổi, vì vậy nếu một quyền chọn ban đầu có giá trị Delta là +0,50 thì tài sản cơ sở tăng lên 1 đô la, nếu nó có gamma là 10, thì giá trị Delta mới là +0,40. Delta cũng thay đổi (hao mòn) khi thời gian trôi qua trong tất cả các giá trị khác đều bằng nhau. Đó là cách mà mức suy giảm Delta hoạt động.

Mức suy giảm Delta được sử dụng bởi các chủ thể là những nhà giao dịch quyền chọn, các chủ thể này đã sử dụng các quyền chọn để nhằm mục đích phòng ngừa những rủi ro do thị trường đóng cửa vào hai ngày cuối tuần nên sức ảnh hưởng của giá trị mức suy giảm Delta là rất lớn. Khi thị trường đóng cửa vào thứ ba lúc 5 giờ chiều (giờ ET) và mở cửa lại vào thứ tư úc 8 giờ sáng (thời gian giao dịch của Sàn giao dịch chứng khoán New York), giá trị mức suy giảm Delta chỉ có nửa ngày có hiệu lực.

Khi thị trường đóng cửa vào thứ Sáu lúc 5 giờ chiều và thị trường đó lại mở cửa trở lại vào thứ Hai lúc 8 giờ sáng thì đã có hai ngày rưỡi trôi qua mà không có giao dịch chứng khoán cơ bản nào. Các chủ thể là các nhà giao dịch quyền chọn, đặc biệt là những người đang đứng ở vị thế được bảo vệ bởi giá trị Delta sẽ cần phải thực sự chú ý đến giá trị mức suy giảm Delta của họ vào thứ Sáu bởi vì nó có ảnh hưởng đến hành vi quyền chọn của các chủ thể đó vào ngày thứ Hai tuần sau.

Quyền chọn được hiểu cơ bản là một dạng hợp đồng chứng khoán phái sinh và nó được sử dụng nhằm mục đích để cho phép các chủ thể là người nắm giữ nó có quyền mua hoặc bán một khối lượng hàng hóa cơ sở nhất định với một mức giá xác định vào một thời điểm cụ thể đã được định trước. Có hai loại quyền chọn cơ bản cụ thể đó là: quyền chọn mua (call option) và quyền chọn bán (put option). Các hàng hóa cơ sở này có thể là những loại cơ bản sau đây: cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số trái phiếu, tiền hay hợp đồng tương lai.

Quyền chọn mua (Call option) được định nghĩa như sau: một quyền chọn mua cho chủ thể là người mua sở hữu quyền được mua một loại tài sản cơ sở ở một mức giá cố định (gọi là giá thực hiện) trong một khoản thời gian xác định. Đổi lại, các chủ thể là những người mua quyền phải trả ngay cho người bán quyền một khoản tiền gọi là phí quyền chọn, người bán quyền có nghĩa vụ phải bán tài sản khi người mua thực hiện quyền (nghĩa là mua tài sản).

Quyền chọn bán được định nghĩa như sau: một quyền chọn bán cho người mua sở hữu quyền được bán tài sản cơ sở tại một giá cố định cho người bán quyền chọn bán. Đổi lại, người mua quyền phải trả cho người bán một khoản phí. Người bán quyền sẽ có nghĩa vụ phải trả cho người bán một khoản phí nhất định. Các chủ thể là những người bán quyền có nghĩa vụ phải mua tài sản khi người mua thực hiện quyền (nghĩa là bán tài sản).

4. Một số các thuật ngữ tương tự, liên quan

- Delta Neutral

- Options

- Greeks

- Seagull Option

- In The Money (ITM)

- Greeks Definition

- How Options Work for Buyers and Sellers

- Charm

- Delta-Gamma Hedging Definition

- How Delta Hedging Works

- Gamma Definition

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.