1. Xử lý tranh chấp thừa kế là nhà đất như thế nào ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi xin nhờ tư vấn của quý công ty như sau: Bố mẹ tôi sinh được 5 người con, con lớn sinh năm 1954, con út 1981. Năm 1995 bố tôi chết không để lại di chúc, tài sản là mảnh đất 100 m2. Các anh chị ra ở riêng, không chung hộ khi bố tôi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Sau khi bố mất, năm 2001, mẹ tôi họp gia đình và thống nhất cho con út sử dụng. Tất cả đồng ý nhưng không lập thành văn bản. Mẹ tôi làm đơn trình bày nguyện vọng trao toàn quyền cho con út sử dụng lên UBND huyện và được chấp thuận sang tên cho con út năm từ 2001. Năm 2015 đất có giá anh chị tôi kiện mẹ và người em út vì nói tự ý sang tên không có sự chấp thuận của các anh chị với lý do không lập thành văn bản.

Tôi muốn hỏi như sau:

1. Đất bố tôi đứng tên ghi là hộ gia đình ông trong khi đó các anh chị ra ở riêng không chung sổ hộ khẩu, vậy có quyền kiện tài sản chung không ?

2. Việc họp gia đình được sự chấp thuận của các anh chị và mẹ nhưng không lập thành văn bản và việc làm đơn của mẹ gửi UBND huyện với nguyện vọng trao toàn bộ tài sản trên cho con út được đồng ý chấp thuận và đã chuyển tên cho người con út từ năm 2001, vậy đúng hay sai?

3. Các anh chị có quyền khởi kiện việc thừa kế không? Bố mất năm 1995, năm 2001 mới chuyển tên cho người con út, đến năm 2015 mới kiện di sản thừa kế là mảnh đất trên có còn hiệu lực không? Để đảm bảo quyền lợi cho người con út quản lý sử dụng 20 năm nay phải làm như thế nào?

Xin luật sư giúp đỡ! Xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật Dân sự qua điện thoại gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1.Vấn đề thứ nhất bạn hỏi là: "Đất bố anh đứng tên ghi là hộ ga đình trong khi đó các anh chị anh đã ra nghỉ riêng và không chung sổ hộ khẩu, vậy có quyền kiện tài sản chung không? "thì xin trả lời bạn là: Việc đăng ký tên trong sổ hộ khẩu chỉ có ý nghĩa trong việc quản lý về mặt hành chính, chứ việc này không có ý nghĩa gì trong việc để lại thừa kế. Quyền sở hữu tài sản của các thành viên trong gia đình phụ thuộc vào việc người đó có được xác định thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định của Bộ luật dân sự năm 1995 hay không và nó không liên quan đến việc những người này cư trú tại đâu.

Căn cứ theo điều 679, Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 (Bộ luật Dân sự năm 2015) quy định con của người chết đều xác định thuộc hàng thừa kế thứ nhất, nên hoàn toàn có quyền khởi kiện yêu cầu phân chia tài sản chung.

2. Về việc mẹ bạn có quyền để lại tài sản là mảnh đất cho bạn được không

Theo thông tin bạn đưa ra mảnh đất đó là tài sản chung của bố mẹ bạn. Việc bố bạn đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không làm ảnh hưởng đến quyền chủ sở hữu của mẹ bạn đối với mảnh đất này. Chính vì mảnh đất đó là tài sản chung của bố mẹ bạn nên theo quy định của luật hôn nhân và gia đình thì tài sản chung của 2 vợ chồng sẽ được chia đôi nên khi bố bạn chết thì phần tài sản dùng làm di sản thừa kế của bố bạn sẽ chỉ là 1/2 mảnh đất đó còn lại 1/2 mảnh đất vẫn là của mẹ bạn có quyền sở hữu.

Do vậy, Bạn sẽ không thể là người duy nhất hưởng thừa kế phần di sản mà mẹ bạn để lại mà còn có bố bạn và các anh chị em của bạn. Vậy nên khi làm thủ tục hưởng thừa kế sẽ phải có đầy đủ tất cả những người đồng thừa kế trừ trường hợp những người này cùng đồng ý làm giấy ủy quyền và ký tên đầy đủ ủy quyền cho bạn thực hiện và mẹ bạn có thể để lại cho bạn phần tài sản của mẹ bạn trong khối tài sản chung đó.

Việc chia thừa kế, do bố bạn chết không để lại di chúc nên phần di sản của mẹ bạn (1/2 mảnh đất) sẽ được chia theo pháp luật theo điều 679 bộ luật dân sự 1995 :

"1- Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột.

2- Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3- Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng thừa kế hoặc từ chối nhận di sản.".

Vậy, việc họp gia đình được sự chấp thuận của các anh chị và mẹ nhưng không lập thành văn bản nên rất dễ xảy ra tranh chấp vào thời điểm hiện tại, vì không có căn cứ cho việc tất cả những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất đã đồng ý chuyển tên cho người con út năm 2001. Cho nên, nếu như người mẹ chứng minh vào thời điểm đó có sự đồng thuận của tất cả các thành viên trong gia đình thì việc làm đơn của người mẹ chuyển sang cho con út không được coi là hành vi vi phạm pháp luật.

3. Do thời điểm bố bạn để lại di sản mất là năm 1995, và thỏa thuận chia di sản năm 2001, đến năm 2015 mới kiện di sản thừa kế là mảnh đất nên thời hiệu yêu cầu khởi kiện đòi chia di sản vẫn không còn (theo quy định thời hạn đó là 10 năm kể từ ngày mở thừa kế- thời điểm năm 2001 chuyển tên cho người con út) nên những người thừa kế là anh chị em của bạn sẽ không có quyền được khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế nên nếu các anh chị bạn gửi đơn khởi kiện đến tòa án mà nội dung khởi kiện là khởi kiện về thừa kế (như chia di sản thừa kế, xác định quyền thừa kế …) thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện do đã hết thời hiệu khởi kiện.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Tư vấn soạn thảo di chúc và Dịch vụ làm chứng, chứng thực di chúc

2. Phân chia si sản thừa kế, cách và khước từ di sản thừa kế ?

Luật Minh Khuê giải đáp những vướng mắc của người dân về việc phân chia si sản thừa kế và vấn đề khước từ di sản thừa kế theo luật:

Trả lời:

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội quy định:

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

"Điều 669. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động."

"Điều 652. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực. "

Thưa luật sư, Hiện gia đình em đang tranh chấp 1 căn nhà,số tài sản ấy sẽ được chia thành 4 phần và chia đều cho 4 người trong gia đình ấy trong đó có bố em,nhưng vì 18 năm trước, trước khi xuất ngoại ông nội em đã làm 1 tờ khước từ di sản và ông đã mất hơn 6 năm rồi vậy cho em hỏi là phần thừa kế bố em vẫn được nhận hay là không ạ. Và câu thứ 2 là phần tài sản ấy cả 3 người đều đồng ý bán nhưng có 1 người không đồng ý thì trên pháp luật tài sản ấy có được mua bán không ạ?

=> Bạn không nói rõ tài sản ấy được thừa kế từ ai nên chúng tôi không thể xác định bố bạn có được nhận thừa kế hay không. Về phần di sản mà cả 3 người đều đồng ý bán nhưng có 1 người không đồng ý thì trên pháp luật tài sản đó Tòa án sẽ bán để chia đều giá trị.

Thưa luật sư, Chồng chết để lại ngôi nhà là tài sản. Người mất có vợ cả và một con trai. vợ hai có một con trai. Xin hỏi tài sản ngôi nhà tính giá trị thời điểm chia tài sản (Vd: 1 tỷ đồng) vậy những ai là người được thừa kế và thừa kế như thế nào?

=> Những người được thừa kế là 2 con và người vợ có đăng ký kết hôn theo pháp luật. Di sản được chia đều vì không có di chúc.

Thưa luật sư, Ba mẹ tôi cùng đứng tên chung trong giấy sử dụng đất, có tài sản gắn liền trên đất, nay mẹ tôi đã mất. Ba tôi muốn để thừa kế mảnh đất và tài sản gắn liền trên đất đó cho tôi. Gia đình tôi có năm anh em cả trai lẫn gái, tất cả đều đồng ý để lại thừa kế cho vợ chồng tôi. Xin hướng dẫn cho tôi phải làm như thế nào để vợ chồng tôi được hưởng thừa kế mảnh đất trên, chuyển tên trong giấy sử dụng đất sang tên vợ chồng tôi.

=> Bạn thỏa thuận với những người còn lại để họ làm giấy ủy quyền cho bạn có toàn quyền sử dụng phần di sản thưà kế này.

Xin chào luật sư, Xin hỏi có qui định thời hạn bao nhiêu lâu sau khi người để lại di sản chết thì người được thừa kế phải tiến hành thủ tục mở thừa kế không ạ ( 1 năm , 2 năm …) ? Địa điểm để mở thừa kế là ở đâu , có thể ra ủy ban nhân dân phường nơi người để lại di sản chết để mở thừa kế được không ? Khi giấy khai tử đã được ủy ban nhân dân phường chứng nhận có phải là đã mở thừa kế không hay phải ra tòa án ? Xin cảm ơn

=> Bộ luật dân sự quy định:

" Điều 633. Thời điểm, địa điểm mở thừa kế

1. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trong trường hợp Toà án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này.

2. Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc phần lớn di sản."

Thưa luật sư, Nhà ông A sử dụng 540m2 đất ở từ trước ngày 15/10/1993. Năm 2002, ông A cho con là ông B sử dụng 58,5m2 đất ở tại văn bản chia thừa kế, có xác nhận của UBND xã thời bấy giờ. Năm 2011, ông B có đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, tại thời điểm làm đơn, ông B chưa có nhà ở trên đó. Vậy trường hợp của ông B có được cấp Giấy chứng nhận không? Tại sao?

=> Ông B vẫn được cấp GCNQSD đất vì theo di chúc ông B có quyền sử dụng đối với mảnh đất này, việc xây nhà sau này ông B có thể quyết định sau.

Chào luật sư, Luật sư cho tôi hỏi một trường hợp như thế này: Bạn tôi đã có vợ và một con gái chưa đủ 15 tuổi. Bố mẹ đẻ của bạn tôi vẫn còn. Bạn tôi chết có để lại một mảnh đất. Nay, gia đình bạn tôi muốn làm văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế, thì trong văn bản phân chia đó, con gái bạn tôi có thể tặng cho phần di sản mà nó được hưởng cho ông nội nó không. Cảm ơn luật sư rất nhiều!

=> Nếu thỏa thuận mà nhưung người thưuà kế đều đồng ý thì được phép chia.

Thưa luật sư, ôi là người đại diện của những người được thừa kế quyền sử dụng đất khác chưa xác định đứng tên trên Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất, nay tôi muốn chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất này thì cần phải làm nhưng thủ tục gì?

=> Bạn phải được cấp GCNQSD đất đối với mảnh đất này thì mới là chủ sử dụng hợp pháp mới có thể chuyên nhượng được.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Hướng dẫn thủ tục lập di chúc phân chia tài sản cho con cháu ? Di chúc viết tay có hợp pháp không ?

3. Tư vấn quy định về việc hưởng di sản thừa kế ?

Thưa luật sư, Ông nội tôi chết cách đây 20 năm trước khi chết ông có di chúc miệng nhưng không có giấy tờ ,bằng chứng , rằng để lại cho chồng tôi (là con trai của bố chông tôi )và anh trai chồng tôi (là con của anh trai bố chồng tôi ) anh trai của bố chồng tôi hiện đã chết .một mảnh đất rừng khoảng 1ha . hiện nay bố mẹ chồng tôi đã canh tác mảnh đất đó đã được 20 năm .
Vào thời điểm cách đay 1 tháng a trai chồng tôi ra chanh chấp nói đó là đất của ông bà nội tôi để lại cho a ấy .xin hỏi liệu nếu khỏi kiện gia đinh anh ấy co thắng kiện bố chồng tôi không ?
Cảm ơn!

Luật sư phân tích:

Theo quy định của pháp luật, để di chúc miệng có hiệu lực thì lúc người chết để lại di chúc miệng phải có ít nhất 2 người làm chứng, và trong vòng 5 ngày kể từ ngày người này chết thì di chúc miệng trên phải được lập thành văn bản và được công chứng. Vì vậy, di chúc của ông bạn để lại chồng bạn là không có hiệu lực pháp luật. Theo đó, nếu có tranh chấp thì gia đình bạn có quyền làm đơn khởi kiện để Tòa án phân chia di sản này theo quy định của pháp luật.

Theo Điều 676 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội quy định:

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Như vậy, nếu hàng thừa kế thứ nhất không còn ai, thì tài sản này được chia cho những người thuộc hàng thừa kế thứ hai, và mỗi người được hưởng một phần bằng nhau.

Thưa luật sư, Em có thắc mắc sau rất mong được các anh chị tư vấn sớm giúp em. Nhà em đang ở có sổ đỏ được cấp năm 1990. Đứng tên sổ đỏ là hộ gia đình.Thời điểm đấy gia đình em có 4 người trong hộ khẩu gồm có em,anh trai và bố mẹ em.sau năm 2000 anh em lập gia đình rồi tách khẩu ra ở riêng. Một thời gian sau bố em chẳng may gặp bệnh hiểm nghèo ra đi trước nên để di chúc lại miếng đất cho mẹ em. Anh chị cho em hỏi trong trường hợp mẹ em muốn bán đất thì có cần phải có chữ kí của anh trai em không. Nếu mẹ em bán đất theo pháp luật ai sẽ là người được quyền thừa hưởng tài sản. Em mong các anh chị giúp em trả lời sớm, em cám ơn các anh chị. -- Được gửi từ điện thoại thông minh OPPO của tôi

=> Nếu GCNQSDĐ của gia đình bạn được cấp dưới dạng hộ gia đình thì mỗi người đều được pháp luật thừa nhận quyến sử dụng đất, theo đó, mỗi người được hưởng phần quyền ngang nhau đối với mảnh đất này. Và theo quy định của pháp luật đất đai, quyền sử dụng đất của mỗi người được xác lập theo hộ khẩu lúc được cấp giấy CNQSDĐ chứ không phải tại thời điểm chuyển nhượng. Vì vậy, nếu mẹ bạn muốn bán quyền sử dụng mảnh đất này thì đều phải có sự ký nhận, đồng ý của các thành viên có tên trong sổ hộ khẩu vào năm 1990.

Thưa luật sư, 1- Em tôi làm di chúc cho tôi trong đó nội dung là cho tôi , nếu tôi mất trước nó , thì di chúc này sẽ cho ba đưa cháu có tên rõ ràng .( và di chúc này đả làm với nội dung như thế rồi ) 2- Chỉ là câu hỏi thôi ạ: là trong trường hợp lúc đó , tôi già yếu , tôi không muốn nhận di sản , mà từ chối , để di sản sẽ chia cho 3 đưa cháu đó thì có được không a? có hợp pháp không a? Cám ơn anh chị TMH

=> Nếu trong di chúc của em bạn được định đoạt để lại tài sản cho bạn, thì lúc này, nếu bạn từ chối nhận di sản và những người thuộc hàng thừa kế của người này vẫn còn sống, có yêu cầu nhận di sản thì phần tài sản này sẽ được chia cho những người thừa kế theo pháp luật, chứ không được chia theo ý chí, mong muốn của bạn. Nếu bạn muốn được giao phần tài sản này cho 3 người cháu của mình, thì bạn cần phải thực hiện thủ tục nhận di sản thừa kế, sang tên quyền sử dụng , quyền sở hữu tài sản (đối với những tài sản phải đăng ký sử dụng, sở hữu), sau đó lập hợp đồng tặng cho hoặc lập di chúc để lại cho những người này.

Thưa luật sư, Bà ngoại của con có 1 căn nhà, bà mất cách đây 1 năm. Bà có 12 người con, 1 người đã chết trước khi bà mất, 1 người đã chết sau khi bà mất và những người còn lại vẫn còn sống. Trước khi bà mất, bà không có ghi di chúc. Vậy theo luật thì phải chia tài sản như thế nào cho hợp lệ ạ?

=> Vì bà bạn mất mà không để lại di chúc, nên tất cả những di sản bà bạn để lại được chia theo quy định của pháp luật. Đối với người đã chết trước khi bà mất, thì theo nguyên tắc thừa kế thế vị, những người con của người này được hưởng thay cho phần mà cha/mẹ của họ lẽ ra được hưởng. Còn đối với người chết sau bà bạn, mà chết trước thời điểm mở thừa kế thì người này không được tính là một suất thừa kế.

Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Người không biết chữ muốn để lại di chúc thì phải làm thế nào ? Di chúc có phải công chứng ?

4. Quyền định đoạt với di sản thừa kế quy định thế nào ?

Xin chào luật sư ! Gia đình tôi có 04 thành viên ( bố, mẹ, tôi và chị gái ), năm 1998 bố mẹ tôi có mua 01 mảnh đất ( là tài sản chung của bố mẹ ) . Đến năm 2007, bố tôi qua đời không để lại di chúc. Và gia đình tôi không làm văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.

Năm 2009 mẹ tôi do ở xa và đau yếu nên đã nhờ ( bằng miệng ) người dì bán mảnh đất trên. Thời điểm 20/11/2009, người dì này đã tự ý bán đất không thông qua mẹ tôi và tự ý nhận tiền của người mua. Đến ngày 05/02/2010, gia đình tôi mới biết sự việc trên. Hai chị em tôi đã phản đối nhưng mẹ tôi vẫn quyết định bán mảnh đất đó. Khi bán chỉ có mẹ tôi ký các giấy tờ mua bán, hai chị em tôi không hề ký kết giấy tờ gì và mảnh đất trên đã được cấp sổ đỏ cho chủ mới. Năm 2011, mẹ tôi qua đời và không để lại di chúc, chị em tôi cũng không làm văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế .

Vậy tôi xin hỏi : trường hợp của tôi có khởi kiện để đòi lại mảnh đất trên được không ? Và giao dịch trên đã vi phạm vào các quy định gì của pháp luật ?

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Người gửi : M.T

Tư vấn những vấn đề pháp lý liên quan đến việc hưởng di sản thừa kế ?

Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến, gọi 1900.6162

Trả lời :

Khoản 1, điều 675, Bộ luật dân sự 2005 quy định :

"1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản."

Vì trước khi mất, bố bạn không để lại di chúc nên sẽ thuộc trường hợp thừa kế theo pháp luật theo điểm a, khoản 1, điều 675, bộ luật dân sự 2005 nêu trên. Do mảnh đất là tài sản chung của bố mẹ bạn nên về nguyên tắc, bố và mẹ bạn mỗi người sẽ có quyển sở hữu quyền sử dụng 1/2 mảnh đất trên. Do đó, quyền sử dụng 1/2 mảnh đất sẽ được xác định là di sản thừa kế mà bố bạn để lại. Sau khi bố bạn mất, gia đình bạn không làm văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế nên di sản mà ba bạn để lại sẽ được phân chia theo quy định tại điều 676, bộ luật dân sự 2005. Cụ thể:

" Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật:

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Theo quy định trên thì hàng thừa kế thứ nhất gồm bạn, mẹ và chị gái bạn nên mỗi người sẽ được chia đều số di sản bố bạn để lại. Cụ thể là mỗi người sẽ được hưởng quyền sử dụng với 1/6 mảnh đất trên. Như vậy, mẹ bạn sẽ có quyền sở hữu quyền sử dụng và định đoạt với 2/3 mảnh đất . Còn 1/3 mảnh đất mà hai chị em bạn được hưởng thì mẹ bạn không có quyền bán khi không có sự đồng ý của hai chị em bạn. Mặt khác, mẹ bạn chỉ là người quản lý với 1/3 mảnh đất ba bạn để lại theo khoản 2, điều 638, bộ luật dân sự 2005 đó là " Trong trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản." Khi đó, mẹ bạn sẽ có các nghĩa vụ theo khoản 2, điều 639, bộ luật dân sự 2005 :

“ 2. Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản quy định tại khoản 2 Điều 638 của Bộ luật này có các nghĩa vụ sau đây:

a) Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp và định đoạt tài sản bằng các hình thức khác;

b) Thông báo về di sản cho những người thừa kế;

c) Bồi thường thiệt hại, nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại;

d) Giao lại di sản theo thoả thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc theo yêu cầu của người thừa kế.”

Do vậy, với phần di sản thừa kế mà bố bạn để lại cho 2 chị em bạn cụ thể là quyền sử dụng 1/3 mảnh đất, mẹ bạn không có quyền quyết định trong việc bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp và định đoạt bằng các hình thức khác mà chỉ có quyền bán 2/3 mảnh đất mà mình có quyền định đoạt.

Theo quy định trên việc mẹ bạn tiến hành bán toàn bộ mảnh đất là vi phạm quy định của pháp luật vì với 1/3 mảnh đất là di sản thừa kế của 2 chị em bạn, mẹ bạn không được quyền tự ý bán và với tư cách là người quản lý di sản theo khoản 2, điều 638 thì mẹ bạn cũng không có quyền quyết định trong việc bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp và định đoạt bằng các hình thức khác với 1/3 mảnh đất đó. Do vậy, theo điều 128 và điều 135, bộ luật dân sự 2005, phần hợp đồng mua bán đối với 1/3 mảnh đất thuộc di sản thừa kế của hai chị em bạn sẽ bị vô hiệu và bạn hoàn toàn có quyền khởi kiện để đòi lại phần di sản mà bạn đưởng hưởng thừa kế do bố bạn để lại. Tuy nhiên, vì khi đó mẹ bạn đã bán và nhận tiền thanh toán, khi hợp đồng vô hiệu thì mẹ bạn phải có trách nhiệm trả lại tiền cho họ, họ trả lại đất. Hiện tại 2 bạn là người thừa kế của mẹ bạn thì sẽ phải thực hiện nghĩa vụ của mẹ bạn tương ứng với số tài sản mà mình đã nhận.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ? Thời hiệu khởi kiện thừa kế là bao lâu ?

5. Chia thừa kế cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài thế nào ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài có được hưởng di sản thừa kế là bất động sản tại Việt Nam không ?
Cảm ơn!

Trả lời:

Điều 5 Luật đất đai năm 2013 quy định: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về quốc tịch là một trong những đối tượng được nhận chuyển quyền sử dụng đất. (Chuyển quyền sử dụng đất là việc chuyển giao quyền sử dụng đất từ người này sang người khác thông qua các hình thức chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất và góp vốn bằng quyền sử dụng đất)

Để được hưởng di sản là mảnh đất do bố mẹ chị để lại thì chị phải thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Căn cứ khoản 1 điều 8 Luật nhà ở năm 2014 điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở bao gồm:

- Phải được phép nhập cảnh vào Việt Nam;

- Có được nhà ở thông qua hình thức mua, thuê mua nhà ở thương mại của doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh bất động sản (sau đây gọi chung là doanh nghiệp kinh doanh bất động sản); mua, nhận tặng cho, nhận đổi, nhận thừa kế nhà ở của hộ gia đình, cá nhân; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại được phép bán nền để tự tổ chức xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật.

Như vậy, nếu chị thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam (tức thỏa mãn các điều kiện nêu trên) thì chị sẽ được nhận chuyển quyền sử dụng đất thông qua hình thức thừa kế như Điểm đ khoản 1 điều 169 Luật đất đai đã quy đinh:

“Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở được nhận chuyển quyền sử dụng đất ở thông qua hình thức mua, thuê mua, nhận thừa kế, nhận tặng cho nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở hoặc được nhận quyền sử dụng đất ở trong các dự án phát triển nhà ở”

Trong trường hợp chị không thuộc diện đươc sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì có khả năng chị sẽ không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với mảnh đất mà bố mẹ chị để lại. Lúc này chị chỉ được chuyển nhượng hoặc được tặng cho quyền sử dụng đất thừa kế mà thôi

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Luật Minh Khuê biên tập

>> Xem thêm:  Quyền thừa kế quyền sử dụng đất là gì ? Bản họp gia đình phân chia tài sản thừa kế có ý nghĩa gì ?