Có thể thấy rằng, có rất nhiều sự lựa chọn để giải quyết các tranh chấp phát sinh như: hòa giải, thương lượng, trọng tài thương mại, tòa án. Vậy ưu, nhược điểm của việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại:

- Ưu điểm: Trước tiên, Tòa án là cơ quan xét xử nhân danh cho quyền lực Nhà nước, phải được tiến hành theo trình tự, thủ tục mà luật quy định. Đồng thời, bản án hay quyết định của Tòa án bắt buộc phải thực thi và được đảm bảo thi hành bằng quyền lực nhà nước. Như vậy, phán quyết của Tòa án có tính chất cưỡng chế cao, trình tự, thủ tục chặt chẽ, đảm bảo hiệu lực thi hành. Các bên có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bắt buộc phải thực hiện. Từ đó, có tính răn đe đối với chủ thể kinh doanh thương mại, hạn chế những trường hợp khác xảy ra. Không chỉ như vậy, Tòa án vốn là cơ quan đại diện cho quyền lực của Nhà nước nên có quyền triệu tập đương sự hay người có liên quan phục vụ cho việc giải quyết các tranh chấp. Các đương sự sẽ phải trả án phí theo quy định, không phải trả thù lao cho Thẩm phán.

- Nhược điểm: Do thủ tục hay quá trình xét xử được thực hiện theo quy định của pháp luật, chính vì thế sẽ mất đi tính linh hoạt. Có thể thấy rằng đa số các phán quyết của Tòa án thường bị kháng cáo, dẫn đến sự việc phải trải qua nhiều xét xử, có thể bị trì hoãn hay phải kéo dài thời gian, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh thương mại của cá nhân, tổ chức. Ngoài ra, tính chất xét xử của Tòa án đa phần được xét xử theo hình thức công khai, có thể bị tiết lộ bí mật kinh doanh gây ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp đó.

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, các tranh chấp kinh doanh thương mại chủ yếu thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa kinh tế - Tòa chuyên trách trong hệ thống tòa án nhân dân. Việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án được thực hiện theo trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015:

1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

Theo Điều 30 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thì đối với tranh chấp liên quan đến kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án như sau:

- Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.

- Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.

- Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty.

- Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.

- Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

2. Thẩm quyền xét xử vụ án theo cấp của Tòa án

Theo điểm b khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm tranh chấp về kinh doanh thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận).

Theo điểm b khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm vụ việc. Yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại Điều 27, 29, 31 và 33 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, trừ những yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 2, 4 Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Trong trường hợp tranh chấp về kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài, có đương sự và tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh sẽ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại.

Ngoài ra, thẩm quyền giải quyết vụ án còn được xác định theo lãnh thổ, theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ để xác định tòa án thuộc lãnh thổ nào có thẩm quyền giải quyết.

3. Khởi kiện vụ án kinh doanh thương mại

3.1. Hồ sơ khởi kiện vụ án kinh doanh thương mại

Cũng giống như các vụ án được đưa ra xét xử tại Tòa án, các tranh chấp kinh doanh thương mại khi được Tòa án xét xử thì hồ sơ khởi kiện cũng phải đầy đủ các giấy tờ cần thiết theo yêu cầu của luật định.

Đơn khởi kiện: theo Điều 186 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, người khởi kiện tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nội dung đơn khởi kiện tuân thủ các yêu cầu theo luật định:

- Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện; 

- Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện; 

- Tên, nơi cư trú, làm việc của người khởi kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người khởi kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có). Trường hợp các bên thỏa thuận địa chỉ để Tòa án liên hệ thì ghi rõ địa chỉ đó;

- Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có);

- Tên, nơi cư trú, làm việc của người bị kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người bị kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có). Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người bị kiện thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người bị kiện;

- Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có). Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

- Quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm; những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

- Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng (nếu có);

- Danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện. Danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện: Hợp đồng kinh doanh; tài liệu bảo đảm thực hiện hợp đồng (bảo lãnh, thế chấp, cầm cố), các loại tài liệu chứng thực về việc thực hiện hợp đồng (biên lai thanh toán, hóa đơn xuất hoặc nhập hàng hóa,...) và các tài liệu liên quan đến tư cách pháp lý của người khởi kiện cũng như các đương sự có liên quan. Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm.

3.2. Thủ tục khởi kiện

Thời hiệu khởi kiện vụ án kinh doanh thương mại được hiểu là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án kinh doanh thương mại để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp. Trừ trường hợp luật có quy định khác, nếu quá thời hạn khởi kiện thì chủ thể không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp.

Theo Điều 319 Luật Thương mại năm 2005 có quy định: Thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với các tranh chấp thương mại là hai năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 237 Luật Thương mại năm 2005.

4. Trình tự giải quyết của Tòa án trong vụ án kinh doanh thương mại

Điều 191 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công , Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:

- Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện.

- Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

- Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác.

- Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ mở kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng phí.

- Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về thời hạn giải quyết (điểm b khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015): đối với vụ án quy định tại Điều 30 (những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án) và Điều 32 (những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án) của Bộ luật này thì thời hạn là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án. Thẩm phán chỉ thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho các đương sự, tổ chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc thụ lý vụ án. Chánh án Tòa án quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án bảo đảm nguyên tắc vô tư, khách quan, ngẫu nhiên.