1.Người giám hộ
Điều kiện về nhân thân. Theo BLDS Điều 60, cá nhân có đủ các điều kiện sau đây thì có thể làm người giám hộ: đủ 18 tuổi trở lên; có đủ năng lực hành vi dân sự; có tư cách đạo đức tốt, không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc là người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm, tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác; có điều kiện cần thiết bảo đảm thực hiện việc giám hộ (Ðiều 69)
Luật không có quy định gì về điều kiện đặt ra đối với tổ chức làm giám hộ; tuy nhiên, đó nhất thiết phải là một tổ chức có thiên hướng hoạt động xã hội, chẳng hạn, Hội liên hiệp phụ nữ, Uỷ ban bảo vệ-chăm sóc trẻ em,…; Một người có thể làm giám hộ cho nhiều người chưa thành niên. Trái lại, một người chưa thành niên chỉ có thể được một người giám hộ trừ trường hợp giám hộ là ông, bà (Điều 58 khoản 4) .
2.Giám hộ đương nhiên và giám hộ được cử
Giám hộ đương nhiên và giám hộ được cử. Luật phân biệt người giám hộ đương nhiên và người giám hộ được cử. Việc cử giám hộ chỉ được tiến hành trong trường hợp không có giám hộ đương nhiên
Giám hộ đương nhiên được pháp luật chỉ định theo thứ tự ghi nhận tại BLDS Điều 61. Cụ thể, nếu người chưa thành niên có anh, chị đã thành niên, thì anh, chị cả là giám hộ đương nhiên; nếu anh, chị cả không đủ điều kiện để làm người giám hộ, thì anh, chị tiếp theo là giám hộ đương nhiên; nếu không có anh, chị hoặc anh, chị không đủ điều kiện làm người giám hộ, thì ông, bà nội, ông bà ngoại là giám hộ đương nhiên; Nếu không có giám hộ đương nhiên, thì những người thân thích của đương sự cử một người trong số họ làm người giám hộ; nếu không có ai trong số những người thân thích đủ điều kiện làm người giám hộ, thì họ có thể cử một người khác làm người giám hộ; nếu những người thân thích không cử được người giám hộ, thì UBND xã, phường, thị trấn (nơi người được giám hộ cư trú) có trách nhiệm cử người giám hộ hoặc đề nghị một tổ chức đảm nhận việc giám hộ66 . Luật không có quy định gì về thể thức cử người giám hộ: có thể chỉ cần một trong những người thân thích đề ra sáng kiến, người được cử theo sáng kiến đó đồng ý, là xong. Cần nhấn mạnh rằng ngay cả trong trường hợp giám hộ đương nhiên, thì việc giám hộ chỉ có giá trị một khi người giám hộ đồng ý nhận nhiệm vụ giám hộ . Song, có thể thừa nhận rằng sự đồng ý của người giám hộ đương nhiên có thể được ghi nhận bằng một hành vi cụ thể chứ không nhất thiết bằng sự bày tỏ ý chí rành mạch. Luật, về phần mình, chỉ quy định điều kiện thủ tục đối với giám hộ được cử.
Điều kiện thủ tục. Giám hộ đương nhiên, do bản chất, được thiết lập một khi các điều kiện nội dung có đủ; người giám hộ đương nhiên không cần có văn bản, cũng không phải đăng ký tư cách giám hộ của mình.
3.Trường hợp không được giám hộ đương nhiên
Trong các trường hợp không có giám hộ đương nhiên, việc cử người giám hộ phải được ghi nhận bằng văn bản, trong đó ghi rõ lý do cử người giám hộ, quyền và nghĩa vụ của người giám hộ, tình trạng tài sản của người này (Điều 64 khoán 1). Luật không nói rõ ai là người phải lập văn bản và nội dung của văn bản phải như thế nào mới coi là hợp lệ. Tuy nhiên, trong logic của sự việc, chính người cử người giám hộ phải tỏ ra mẫn cán trong việc này. Vả lại, do luật đòi hỏi việc cử người giám hộ phải được sự đồng ý của người này, hẳn sự đồng ý đó cũng phải được ghi nhận trong văn bản cử người giám hộ. Luật cũng không đòi hỏi văn bản cử người giám hộ phải được đăng ký. Thế nhưng, theo Nghị định số 158 ngày 27/12/2005 của Chính Phủ Điều 30, thì việc giám hộ phải được đăng ký tại UBND xã nơi cư trú của người giám hộ hoặc nơi có trụ sở của cơ quan, tổ chức đảm nhận giám hộ. Điều khó hiểu là Nghị định chỉ đề cập trường hợp giám hộ được cử và không nói gì đến việc đăng ký giám hộ đương nhiên.
Cũng theo Điều 30 Nghị định, người được cử làm giám hộ phải nộp giấy cử giám hộ. Trên thực tế, UBND còn yêu cầu các giấy tờ khác như CMND, khai sinh, hộ khẩu,… Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy việc giám hộ đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, thì UBND đăng ký việc giám hộ. Trường hợp cần xác minh thời hạn này được kéo dài thêm không quá 5 ngày.
Khi đăng ký việc giám hộ, người cử giám hộ và người được cử làm giám hộ phải có mặt. Cán bộ tư pháp hộ tịch ghi vào sổ đăng ký giám hộ và quyết định công nhận việc giám hộ. Chủ tịch UNBD ký và cấp cho người giám hộ và người cử giám hộ mỗi bên một bản chính quyết định công nhận việc giám hộ. Bản sao quyết định công nhận việc giám hộ được cấp theo yêu cầu của người giám hộ và người cử giám hộ.
Trong trường hợp người được giám hộ có tài sản riêng, thì người cử giám hộ phải lập danh mục tài sản và ghi rõ tình trạng của tài sản đó, có chữ ký của người cử giám hộ và người được cử làm giám hộ. Danh mục tài sản được lập thành 3 bản, giao cho người cử giám hộ, người được cử làm giám hộ, và để lưu tại UBND.
Thực ra, không ai hiểu tại sao giám hộ đương nhiên thì không phải đăng ký, còn giám hộ được cử thì phải đăng ký theo một thủ tục khá rườm rà. Đặc biệt, trong trường hợp giám hộ đương nhiên đối với người có tài sản thì vấn đề lập danh mục tài sản của người được giám hộ không được đặt ra.
Vả lại, cả giám hộ đương nhiên và và giám hộ được cử đều có người giám sát việc giám hộ. Thế mà việc giám sát việc giám hộ lại không phải đăng ký, cả trong trường hợp việc giám hộ phải đăng ký. Kỳ lạ hơn nữa, là trong trường hợp người thân thích không cử được người giám sát việc giám hộ, thì UBND có trách nhiệm cử người giám sát: UBND làm thế nào cử người giám sát đối với người giám hộ đương nhiên, trong điều kiện giám hộ đương nhiên không đăng ký ? Cuối cùng, trong trường hợp UBND cử người giám sát, thì thủ tục cử người ra sao, Nghị định số 152 không nói rõ. Có vẻ như người làm luật gặp khá nhiều lúng túng khi tìm cách hoàn thiện chế định dù không phải là mới, nhưng ít được áp dụng trong thực tiễn, như chế định giám hộ này.
2.Giám sát việc giám hộ
Sự cần thiết của việc giám sát việc giám hộ. Việc giám hộ chỉ thực sự mang lại lợi ích cho người được giám hộ một khi người giám hộ thực hiện công tác của mình với sự tận tâm và thái độ trách nhiệm cần thiết. Tất nhiên, người giám hộ thường có ý thức tự giác thực hiện nhiệm vụ của mình một cách mẫn cán; song, nếu không có sự kiểm soát, giám sát khách quan đối với công việc của người này, thì những rủi ro đối với lợi ích của người được giám hộ có thể không được ngăn chặn kịp thời
Cử người giám sát việc giám hộ. Trong thời gian áp dụng BLDS năm 1995, việc giám sát được giao cho UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người giám hộ. Thế nhưng, cơ chế giám sát này có vẻ không phù hợp với khung cảnh chung, với các thói quen phổ biến và do đó, đã không bao giờ vận hành trên thực tế.
BLDS năm 2005 trao trả công việc giám sát việc giám hộ cho gia đình . Theo Điều 59 khoản 1, người thân thích của người được giám hộ có trách nhiệm cử người đại diện làm người giám sát việc giám hộ để theo dõi, đôn đốc, kiểm tra người giám hộ trong việc thực hiện giám hộ. Chỉ trong trường hợp không có người thân thích, thì UBND mới can thiệp trong việc cử người giám sát.
Cũng theo điều luật đó, người thân thích của người được giám hộ là vợ, chồng, cha, mẹ, con của người được giám hộ; nếu không có ai trong số những người này, thì người thân thích là ông bà (nội, ngoại), anh, chị, em ruột của người được giám hộ; nếu cũng không có ai trong số những người này, thì người thân thích là bác, chú, cô, cậu, dì ruột của người được giám hộ. Nếu hoàn toàn không có ai trong số những người này hoặc vì lý do gì đó, mà những người này không cử được người giám sát việc giám hộ, thì UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người giám hộ cử người giám sát việc giám hộ (Điều 59 khoản 2).
Về tiêu chuẩn để làm người giám sát việc giám hộ, luật chỉ yêu cầu người này có đủ năng lực hành vi (Điều 59 khoản 3), các điều kiện khác, đặc biệt là vấn đề trong sạch về mặt tư pháp, không được đặt ra.
Luật không quy định thể thức, thủ tục cử người giám sát việc giám hộ. Đặc biệt, trong trường hợp có nhiều người thân thích và giữa họ có sự bất đồng ý kiến trong việc cử người giám sát, thì luật không quy định cách thức giải quyết tranh cãi. Có vẻ người làm luật muốn để gia đình tự thu xếp, theo tập quán, tục lệ69 . Riêng trong trường hợp không có người thân thích của người được giám hộ, thì hẳn UBND chỉ định người giám sát việc giám hộ bằng một văn bản. Dẫu sao, trong logic của cơ chế, việc cử người giám sát việc giám hộ phải được thông báo cho người giám hộ, để người này biết mình phải liên hệ với ai trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Có lẽ, người nào cử người giám sát việc giám hộ, thì đồng thời cũng có trách nhiệm thực hiện việc thông báo đó.
Số lượng người giám sát việc giám hộ. Khác với trường hợp giám hộ, luật không quy định số lượng người giám sát việc giám hộ. Về mặt lý thuyết, có thể cử nhiều người giám sát, tuy nhiên, có lẽ thực tiễn sẽ có xu hướng tinh giản cấu trúc giám sát để giảm chi phí, cũng như giảm cả những rủi ro tranh cãi không cần thiết giữa những người giám sát trong quá trình thực hiện chức năng của mình, những tranh cãi không có lợi cho người được giám hộ.
5. Đăng ký giám hộ đương nhiên
Quy định về đăng kí giám hộ đương nhiên như sau
Căn cứ pháp lý theo điều 21 Luật hộ tịch 2014 quy định :
“Điều 21. Đăng ký giám hộ đương nhiên
Người yêu cầu đăng ký giám hộ nộp tờ khai đăng ký giám hộ theo mẫu quy định và giấy tờ chứng minh điều kiện giám hộ đương nhiên theo quy định của Bộ luật dân sự cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp có nhiều người cùng đủ điều kiện làm giám hộ đương nhiên thì nộp thêm văn bản thỏa thuận về việc cử một người làm giám hộ đương nhiên.
Trình tự đăng ký giám hộ đương nhiên được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 20 của Luật này”.
– Bước 1: Người yêu cầu đăng ký giám hộ sẽ nộp hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền thực hiện đăng ký giám hộ đương nhiên
* Cơ quan có thẩm quyền đăng ký giám hộ đương nhiên: Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ hoặc người giám hộ thực hiện đăng ký giám hộ.
* Hồ sơ đăng ký giám hộ đương nhiên bao gồm:
– Tờ khai đăng ký giám hộ theo mẫu.
– Giấy tờ chứng minh điều kiện giám hộ đương nhiên theo quy định của Bộ luật dân sự đối với trường hợp đăng ký giám hộ đương nhiên. Trường hợp có nhiều người cùng đủ điều kiện làm giám hộ đương nhiên thì nộp thêm văn bản thỏa thuận về việc cử một người làm giám hộ đương nhiên.
* Cách thức nộp hồ sơ: nộp trực tiếp hoặc nộp qua hệ thống bưu chính
– Bước 2: Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ đăng ký giám hộ đương nhiên
Người tiếp nhận có trách nhiệm kiểm tra ngay toàn bộ hồ sơ, xác định tính hợp lệ của giấy tờ trong hồ sơ do người yêu cầu nộp, xuất trình; đối chiếu thông tin trong Tờ khai với giấy tờ trong hồ sơ.
– Nếu hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, người tiếp nhận hồ sơ viết giấy tiếp nhận, trong đó ghi rõ ngày, giờ trả kết quả; nếu hồ sơ chưa đầy đủ, hoàn thiện thì hướng dẫn người nộp hồ sơ bổ sung, hoàn thiện theo quy định; trường hợp không thể bổ sung, hoàn thiện hồ sơ ngay thì phải lập thành văn bản hướng dẫn, trong đó nêu rõ loại giấy tờ, nội dung cần bổ sung, hoàn thiện, ký, ghi rõ họ, chữ đệm, tên của người tiếp nhận.
– Nếu hồ sơ đăng ký hộ tịch sau khi đã được hướng dẫn theo quy định mà không được bổ sung đầy đủ, hoàn thiện thì người tiếp nhận từ chối tiếp nhận hồ sơ. Việc từ chối tiếp nhận hồ sơ phải được thể hiện bằng văn bản, trong đó ghi rõ lý do từ chối, người tiếp nhận ký, ghi rõ họ, chữ đệm, tên.
– Bước 3: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định, nếu thấy đủ điều kiện theo quy định pháp luật thì công chức tư pháp
– hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch và cùng người đi đăng ký giám hộ ký vào Sổ hộ tịch, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.
Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập)