1. Quy định pháp luật về quản lý tài sản của người được giám hộ

-. Người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự có trách nhiệm quản lý tài sản của người được giám hộ như tài sản của chính mình; được thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ.

- Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và giao dịch dân sự khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.

- Người giám hộ không được đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác. Các giao dịch dân sự giữa người giám hộ với người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.

Theo quy định tại Điều 59 của Bộ luật dân sự năm 2015 về việc quản lý tài sản của người giám hộ. Việc quản lý tài sản được quy định bốn nội dung chính sau:

- Thứ nhất, người giám hộ có trách nhiệm quản lý tài sản của người được giám hộ như tài sản của chính mình. Quy định này nhấn mạnh trách nhiệm của người giám hộ đối với tài sản của người được giám hộ. Theo đó, quy định yếu cầu sự tận tâm và thực hiện mọi hành vi trong khả năng có thể để thực hiện việc quản lý tài sản, cũng chính là để thực hiện việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.

- Thứ hai, người giám hộ khi thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản có giá trị lớn bao gồm: bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cộc và các giao dịch khác phải có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ. Các giao dịch liên quan đến tài sản có giá trị lớn là nguồn có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của người được giám hộ. Vì vậy, các giao dịch này chỉ được xác định là đủ điều kiện khi có đặt dưới sự giám sát, có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.

- Thứ ba, người giám hộ không được đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác. Việc quản lý tài sản của người được giám hộ là để thực hiện việc chăm sóc, giáo dục, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pahsp của người giám hộ, tài sản của người được giám hộ đặt dưới sự quản lý của người được giám hộ, tuy nhiên không có nghĩa người giám hộ là chủ sở hữu đối với tài sản này.

- Thứ tư, các giao dịch dân sự giữa người dám hộ với người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu.

Như vậy, căn cứ vào quy định trên, người giám hộ chỉ được bán tài sản của người được giám hộ khi việc bán nó là để phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ và được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.

 

2. Ông bà ngoại có được làm người giám hộ cho cháu không?

Chào luật sư, xin hỏi:  cháu ngoại của tôi năm nay mới 5 tuổi. Cách đây không lâu con gái và con rể tôi vừa mới mất vì tai nạn giao thông. Cháu ngoại tôi là con duy nhất của 2 vợ chồng con tôi. Xin hỏi luật sư trong trường hợp này tôi có thể làm người giám hộ cho cháu ngoại tôi được hay không vì bên phía nhà nội nhất quyết bảo rằng cháu nội là cháu của bà ấy và bên nhà nội phải được giám hộ cháu. Liệu có đúng là như vậy hay không ? Mong luật sư giải đáp thắc mắc của tôi. Xin trân thành cảm ơn!

Trả lời:

Theo quy định của pháp luật hiện nay thì những trường hợp Tòa án chỉ định người giám hộ bao gồm:

 

2.1 Khi có tranh chấp giữa những người giám hộ 

Theo quy định tại Điều 52 của BLDS năm 2015, đối với “Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ” hoặc đối với “Người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ” thì người giám hộ đương nhiên của họ được xác định theo thứ tự sau đây:

- Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người giám hộ; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột khác làm người giám hộ.

- Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 Điều này thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ.

- Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ.

Theo quy định tại Điều 53 của BLDS năm 2015, đối với người mất năng lực hành vi dân sự không thuộc trường hợp trước khi bị mất năng lực hành vi dân sự người này đã lựa chọn người giám hộ cho mình (theo khoản 2 Điều 48 BLDS năm 2015) thì người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự được xác định như sau:

- Trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ.

- Trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện làm người giám hộ là người giám hộ.

- Trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ.

Như vậy, khi có sự tranh chấp về người giám hộ giữa những người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLDS năm 2015 và người mất năng lực hành vi dân sự thì Tòa án sẽ chỉ định người giám hộ. Đối với người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi trở lên thì khi Tòa án chỉ định người giám hộ cho họ phải xem xét nguyện vọng của người này.

 

2.2 Khi có tranh chấp về việc cử người giám hộ

Theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật dân sự năm 2015, trường hợp người chưa thành niên quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật dân sự năm 2015, người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương nhiên thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ.

- Nơi cư trú của người được giám hộ theo khoản 1 Điều 42 Bộ luật dân sự năm 2015 là nơi cư trú của người giám hộ. Người giám hộ theo khoản 1 Điều 48 Bộ luật dân sự năm 2015 có thể là cá nhân hoặc pháp nhân.

- Nơi cư trú của cá nhân theo khoản 1, 2 Điều 40 BLDS năm 2015 là nơi người đó thường xuyên sinh sống hoặc là nơi người đó đang sinh sống.

Như vậy, khi có sự tranh chấp về việc cử người giám hộ giữa Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được giám hộ cư trú thì Tòa án chỉ định người giám hộ cho người chưa thành niên quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật dân sự năm 2015, người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương nhiên.

 

2.3 Khi Tòa án ra quyết định tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi 

Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự bị Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật dân sự năm 2015, trường hợp Tòa án tuyên bố một Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì Tòa án sẽ chỉ định người giám hộ cho họ trong số những người giám hộ quy định tại Điều 53 của Bộ luật dân sự năm 2015. Trường hợp không có người giám hộ theo quy định tại Điều 53 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì Tòa án chỉ định người giám hộ hoặc đề nghị một pháp nhân thực hiện việc giám hộ.

 

3. Vướng mắc trong thực tiễn về Tòa án chỉ định người giám hộ

Qua nghiên cứu các quy định về chỉ định người giám hộ trong Bộ luật dân sự năm 2015,  có những vướng mắc sau:

- Pháp luật chưa quy định cụ thể về trình tự, thủ tục Tòa án chỉ định người giám hộ Khi có tranh chấp giữa những người giám hộ quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Bộ luật này về người giám hộ hoặc khi có tranh chấp về việc cử người giám hộ.

- Pháp luật chưa có quy định cụ thể Tòa án nơi người được giám hộ đăng ký thường trú hay Tòa án nơi người được giám hộ đang sinh sống có thẩm quyền chỉ định người giám hộ nếu như người được giám hộ đăng ký thường trú một nơi nhưng sinh sống một nơi.

- Khi Tòa án chỉ định người giám hộ thì người có tranh chấp về người giám hộ hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã có tranh chấp về cử người giám hộ có phải chịu chi phí gì không. Nếu có thì chi phí này tính như thế nào. Những vướng mắc nêu trên do chưa có văn bản của cơ quan có thẩm quyền quy định hoặc hướng dẫn cụ thể nên trong thực tiễn các cơ quan tiến hành tố tụng đã lúng túng hoặc không thống nhất quan điểm với nhau. Thiết nghĩ, những vướng mắc này cơ quan có thẩm quyền cần sớm hướng dẫn để việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn được thống nhất.

Như vậy trong trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 Điều 54 của Bộ luật dân sự năm 2015 này thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ. Trong trường hai bên không thỏa thuận được về giám hộ cho cháu thì bác có thể làm đơn ra Tòa án yêu cầu được giải quyết.

Bạn đang theo dõi bài viết Người giám hộ có được bán tài sản của người được giám hộ không? được biên tập trên trang web của Luật Minh Khuê. Nếu có thắc mắc hay cần hỗ trợ tư vấn pháp luật từ các Luật sư, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua Hotline: 1900.6162  để được hỗ trợ hiệu quả và tối ưu nhất. Trân trọng./.